Sep 3, 2026

Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 - mốc son không thể phủ nhận trong lịch sử dân tộc

          Trên trang Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn đăng bài “Ngày “độc lập 2 tháng 9” nên dẹp bỏ”. Núp dưới cách diễn giải về lịch sử dựng nước, giữ nước và đề cao giá trị của Nam quốc sơn hà, tác giả đưa ra một loạt nhận định rằng dân tộc Việt Nam “đã độc lập hơn ngàn năm”, đã có “Tuyên ngôn độc lập từ ngàn năm trước”, vì thế không cần một bản tuyên ngôn độc lập mới; đồng thời xuyên tạc ý nghĩa của Ngày Quốc khánh 2/9/1945, phủ nhận vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc.

Thứ nhất, khẳng định truyền thống độc lập hàng nghìn năm của dân tộc hoàn toàn không mâu thuẫn với việc khẳng định giá trị lịch sử và pháp lý đặc biệt của Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Sai lầm đầu tiên và cũng là nền tảng cho toàn bộ lập luận của Trương Nhân Tuấn nằm ở chỗ cố tình đặt Nam quốc sơn hà và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vào quan hệ loại trừ đã có cái trước thì cái sau trở thành “dư thừa”. Đây là một phép suy luận phi lịch sử. Không ai phủ nhận Việt Nam là quốc gia có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo cùng nhiều văn kiện, sự kiện lịch sử khác là những cột mốc rực rỡ khẳng định ý chí độc lập, chủ quyền và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu của các học giả Việt Nam từ lâu cũng nhìn nhận Nam quốc sơn hà như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.

Chính vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 phải được nhìn nhận là sự kế thừa và phát triển truyền thống ấy trong một điều kiện lịch sử hoàn toàn mới, chứ không phải sự phủ nhận lịch sử trước đó. Trước Ngày 2/9/1945, Việt Nam đã trải qua hơn 80 năm dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp; đến năm 1940 lại chịu sự thống trị của phát xít Nhật. Vì vậy, vấn đề đặt ra vào năm 1945 không phải là chứng minh “dân tộc Việt Nam có từ bao giờ”, mà là xác lập lại nền độc lập đã bị chủ nghĩa thực dân tước đoạt và tuyên bố sự ra đời của một nhà nước độc lập trong trật tự quốc tế mới. Tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn đồng thời tuyên bố chấm dứt quan hệ thuộc địa với Pháp, xóa bỏ những đặc quyền của Pháp ở Việt Nam và khẳng định quyền của dân tộc Việt Nam được hưởng tự do, độc lập. Bởi vậy, lấy Nam quốc sơn hà để kết luận rằng Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là “dư thừa” chẳng khác nào cho rằng một dân tộc đã từng có độc lập trong lịch sử thì sau khi bị xâm lược, mất độc lập không cần tuyên bố khôi phục chủ quyền quốc gia. Đó không phải tư duy lịch sử mà là sự đánh đồng các thời đại, các chủ thể nhà nước và các hoàn cảnh pháp lý hoàn toàn khác nhau.

Thứ hai, phủ nhận Ngày Quốc khánh 2/9/1945 thực chất là tách Tuyên ngôn Độc lập khỏi thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và xuyên tạc quá trình nhân dân Việt Nam giành lại quyền tự quyết của mình. Trương Nhân Tuấn còn cho rằng, không có chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh giành độc lập ngày 2/9/1945; rằng Nhật đã đầu hàng Đồng minh, vì thế việc giành chính quyền chỉ là “chạy đua với Đồng minh”. Cách diễn giải sai lệch này đã giản lược một quá trình lịch sử phức tạp thành một sự chuyển giao quyền lực gần như tự nhiên. Nhật đầu hàng Đồng minh là điều kiện quốc tế thuận lợi, nhưng sự đầu hàng của Nhật không tự động tạo ra một Nhà nước Việt Nam độc lập. Khoảng trống quyền lực chỉ có thể trở thành cơ hội lịch sử khi có một lực lượng chính trị đủ khả năng tổ chức nhân dân, giành chính quyền và thiết lập một chính quyền mới trên thực tế. Cách mạng Tháng Tám chính là quá trình biến thời cơ đó thành hiện thực chính trị.

Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ rõ một thực tế lịch sử quan trọng: Nhân dân Việt Nam giành lại đất nước từ tay Nhật; chế độ thuộc địa của Pháp và chế độ quân chủ đều bị chấm dứt, từ đó Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xác lập. Không thể chỉ viện dẫn việc Nhật đầu hàng để xóa bỏ vai trò chủ thể của hàng triệu người Việt Nam đã tham gia quá trình giành chính quyền. Điều cần phân biệt rất rõ là tôn vinh Ngày Quốc khánh 2/9/1945 không hề phủ nhận hàng nghìn năm lịch sử trước đó. Trái lại, Ngày mùng 2 tháng 9 là một mắt xích đặc biệt trong dòng chảy liên tục của ý chí độc lập dân tộc từ Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo đến Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Một bên khẳng định chủ quyền trong điều kiện quốc gia quân chủ thời trung đại; một bên tuyên bố nền độc lập và xác lập nhà nước mới trong bối cảnh chính trị – pháp lý quốc tế của thế kỷ XX. Chính sự kế tục ấy làm nên chiều sâu của lịch sử Việt Nam. Vì thế, lời kêu gọi “dẹp bỏ” Ngày Mùng 2 tháng 9 không phải là cách “trả lại lịch sử” cho dân tộc như cách suy diễn xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn. Ngược lại, đó là cách cắt bỏ một mắt xích quan trọng khỏi chính lịch sử dân tộc, lấy một mốc son của quá khứ để phủ định một mốc son của thời đại sau.

Tóm lại, lập luận đòi “dẹp bỏ” Ngày Quốc khánh nùng 2 tháng 9 là cách nhìn phiến diện, phản động, đánh đồng các thời kỳ và hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Truyền thống độc lập hàng nghìn năm của dân tộc không đối lập, mà được kế thừa và phát triển trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Tôn trọng lịch sử phải là nhìn nhận đầy đủ tính kế thừa của truyền thống độc lập và giá trị đặc biệt của Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9, không như lập luận xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

0 comments:

Post a Comment