Jan 15, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC THÔNG TIN THẤT THIỆT

TRE VIỆT - Hội nghị Trung ương 14 (khóa XI) - Hội nghị cuối cùng chuẩn bị cho Đại hội XII của Đảng bế mạc chiều 13-01. Theo dõi lời phát biểu bế mạc Hội nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đều rất vui mừng trước thành công của Hội nghị. Hội nghị “rất thành công”, không khí dân chủ, thẳng thắng, số phiếu rất tập trung khi chọn bốn vị trí tứ trụ: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ để giới thiệu với Đại hội,… là những từ ngữ được người đứng đầu Đảng ta đã sử dụng. Thế nhưng, ngay sau đó, trên các trang “lề trái” xuất hiện nhiều bài viết, một số người vào đọc và coi như đó là món quà ngồi bàn trà ấm nước trao đổi, bàn luận, mà họ đã vô tình trở thành người tuyên truyền thông tin thất thiệt. Mà những người viết bài trên các trang “lề trái” thì có động cơ không trong sáng, với mục đích riêng. Vì thế, lấy các tin ở các trang đó ra bàn luận thì thật không nên.
Chúng ta còn nhớ, vụ động đất sóng thần ở Nhật Bản cách đây mấy năm, có người viết bài đại thể là tự giới thiệu là người Việt, làm nghiên cứu sinh ở Nhật, đã chứng kiến một em bé người Nhật dù không còn bố mẹ, lại phải chịu cảnh đói rét, nhưng vẫn xếp hàng trật tự cùng người lớn để nhận khẩu phần thức ăn của mình, khi được anh người Việt cho bánh mì, em bé đã từ chối vì không nỡ ăn khẩu phần của anh ta. Bài viết đã ca ngợi tinh thần người Nhật, cảm phục trước tinh thần kỷ luật của người Nhật và gây sự xúc động lớn trong xã hội. Thế nhưng, khi sứ quán Nhật tại Việt Nam, tìm người Việt viết bài theo địa chỉ anh ta cung cấp trong bài viết, thì không có ai như thế cả. Bài viết dù vô hại, nhưng cho chúng ta thấy, sự tưởng tượng của người ta rất giỏi, làm mọi người cứ nghĩ như thật, nhưng lại không có thật.
Ví dụ khác là VTV với: Chuyện của Lượm cách đây mấy năm cũng đã gây xúc động cho bao nhiêu khán giả màn hình nhỏ! Cũng vì chuyện này mà ê kíp làm chương trình phải xin lỗi khán giả chỉ vì tin vào bức thư của người có tên Lượm mà không điều tra kỹ, nên không hề hay biết, đó không phải là chuyện thật. Cả một chương trình truyền hình với đội ngũ có kinh nghiệm, kiến thức,… mà còn bị một là thư của cô gái trẻ mê hoặc, cứ tưởng những gì cô ta viết trong thư là thật, thì những bài viết trên các trang “lề trái”, mọi người chớ có vội tin, để lấy “câu chuyện làm quà”, tạo dư luận và tin đồn đoán thất thiệt.
Chúng ta còn nhớ, cách đây không lâu, cũng trên các trang “lề trái” đã mở chiến dịch bôi nhọ một cán bộ cấp cao của Đảng bằng cách tung tin ông ta sở hữu “hàng loạt ngôi biệt thự khủng”, có biệt thự hàng chục triệu đô trên đất Mỹ, nhiều “biệt phủ” nguy nga hoành tráng ở quê, cho con cháu “đứng tên” hàng chục “lô đất vàng” ở các thành phố lớn,... làm nhiều người bị sốc và tin cho đó là thật. Người ta còn viết chính họ là những người từng làm ở văn phòng của cán bộ cao cấp kia, làm tăng thêm độ tin cậy. Thế nhưng, qua điều tra, đó chỉ là những bịa đặt, không có ai từng làm ở văn phòng của cán bộ cao cấp kia có tên tuổi như thế cả. Mục đích của họ là gây hoài nghi, mất lòng tin của người dân với chế độ mà thôi.
Hiện nay, những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước còn bịa đặt trong Đảng đã và đang có sự chia rẽ nội bộ sâu sắc; đang đấu đá giữa phe “bảo thủ” với phe “cải cách”, giữa “phe thân Mỹ” với “phe thân Tầu”. Đi kèm với những thông tin thất thiệt trên, chúng liên tiếp đăng tải và tán phát những bài viết bình luận về tình hình nhân sự mới của Đảng diễn ra trong tình thế “giằng co quyết liệt” giữa các “nhóm lợi ích”, đấu đá giữa các phe, cánh với nhau… Sự bịa đặt của chúng khác hẳn với những tuyên bố trong lời bế mạc Hội nghị Trung ương 14 của Tổng Bí thư. Thực chất là họ reo rắc sự hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng trong nhân dân, làm mất ổn định chính trị mà thôi.

Trước các sự kiện trọng đại của đất nước, Việt Nam cũng như các nước khác đều phải tăng cường an ninh, nhằm bảo vệ an ninh, an toàn cho sự kiện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng, công tác an ninh cũng được tăng cường cả về lực lượng và phương tiện thì chúng lại xuyên tạc trắng trợn rằng, chuẩn bị cho việc “đấu đá”, “thanh trừng” giữa các phe phái trong Đảng. Vậy nên, cần cảnh giác trước các thông tin thất thiệt. Hãy là người thông thái khi tiếp nhận thông tin để không bị lừa./.

XUYÊN TẠC HIỆN THỰC - MỘT CHIÊU BÀI CŨ RÍCH

Tre Việt - Càng gần đến ngày Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tần xuất các bài viết của những người tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền”,… trên in-tơ-nét thông qua các trang mạng càng đậm đặc. Nội dung chủ yếu vẫn là xuyên tạc thành tựu của Việt Nam 86 năm qua (1930 - 2016), nhất là trong công cuộc đổi mới (từ 1986 đến nay); bôi nhọ, hạ thấp vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, v.v. Những chiêu bài này chẳng có gì mới, những người dân có lòng yêu nước chân chính, tôn trọng sự thật luôn nhận rõ!
          Gần đây, có một số người tự xưng là “nhà đấu tranh” cho dân chủ, nhân quyền tung ra một số bài viết đăng trên một số trang mạng, cho rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang trong lầm than, đói khổ, đứng trước hiểm họa diệt vong. Phải chăng vậy? Cần khẳng định ngay rằng, đây là những bài viết xuyên tạc tình hình thực tiễn Việt Nam, mang dụng ý xấu của những kẻ bội tín, vong ân, bội nghĩa, những “con rối” đang tâm “cõng rắn, cắn gà nhà”, làm tay sai cho các thế lực chống cộng. Bộ mặt bẩn thỉu của những kẻ này mọi người dân đều nhận rõ, nên chúng có viết gì, nói gì thì cũng chẳng ai tin. Sự thật khách quan đã bác bỏ hoàn toàn những gì chúng dựng chuyện, xuyên tạc.
Xin điểm lại những thành tựu chính của dân tộc Việt Nam từ 1930 đến nay. Lịch sử đã chứng minh, từ năm 1930 đến nay, dân tộc Việt Nam đã giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một dân tộc chịu kiếp nô lệ “một cổ hai tròng”, dân tộc Việt Nam đã đứng lên đập tan chế độ phong kiến thối nát, “đánh Pháp, đuổi Nhật” thành lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á (năm 1945). Tiếp đó, cả dân tộc Việt Nam đã đoàn kết, nhất quyết đứng lên “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, để làm “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” đánh bại thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại (năm 1954). Miền Bắc Việt Nam - một nửa nước đã được giải phóng, nhưng miền Nam Việt Nam vẫn nằm dưới ách nô lệ của đế quốc Mỹ. Dân tộc Việt Nam lại tiếp tục đứng lên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Với phương châm “tự lực cánh sinh”, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 30-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc, Nam - Bắc thống nhất - nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời. Đất nước thống nhất, nhân dân Việt Nam chưa được hưởng trọn niềm vui; cả nước vừa phải bắt tay vào khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, vừa phải đối phó cuộc xâm lược biên giới Tây Nam của tập đoàn phản động diệt chủng Pôn-Pốt – Yêng-xa-ry và biên giới phía Bắc của bọn bành trướng bá quyền nước lớn, cũng như sự bao vậy, cấm vận của đế quốc Mỹ và tay sai. Vượt qua mọi khó khăn, thách thức, bằng trí tuệ, công sức và cả máu của mình, dân tộc Việt Nam đã một lần nữa giành chiến thắng. Năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới về tư duy kinh tế. Kiên định với mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công cuộc đổi mới đã giành được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Việt Nam có sự ổn định chính trị vững chắc; nền kinh tế đất nước có sự phát triển liên tục, mang tính bền vững cao, đời sống của người dân không ngừng tăng lên, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; quốc phòng - an ninh được tăng cường; chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia (cả trên đất liền, trên biển, trên không) được bảo vệ vững chắc. Việt Nam, từ một đất nước kém phát triển, nghèo đói, bị tàn phá bởi chiên tranh đã được cộng đồng thế giới công nhận một nước phát triển ở ngưỡng trung bình. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với nhiều quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ, nền kinh tế trên thế giới; là thành viên tin cậy, có trách nhiệm cao của những tổ chức quốc tế có uy tín, v.v. Có đẩy đủ các số liệu phản ánh thực tế những chỉ số phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,… để minh chứng cho những thành tựu nêu trên được các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và quốc tế nói nhiều, nói rõ, thiết nghĩ chẳng cần nhắc lại.
Đây là sự thực khách quan không thể bác bỏ. Chỉ những kẻ “mù” mới chẳng nhìn thấy!
Vậy, nguyên nhân nào quyết định đến sự thắng lợi, phát triển của Việt Nam?
Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu là: nhân dân Việt Nam đã tin tưởng, trao quyền lãnh đạo, cầm quyền cho một lực lượng chính trị duy nhất “Đạo đức và văn minh” - Đảng Cộng sản Việt Nam. Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với cương lĩnh, đường lối, phương pháp lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn, sáng tạo; đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì nước, vì dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, chiến thắng “giặc dốt”, “giặc đói”, “giặc ngoại xâm”, xây dựng nước Việt Nam “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý rõ ràng, chẳng có thế lực nào bác bỏ được.

Những kẻ bội tín, vong ân bội nghĩa, đang tâm làm “con rối” cho các thế lực thù địch, chống phá hiện thực phát triển của đất nước Việt Nam dẫu có “múa” thế nào, cũng bị người dân nhận rõ, bác bỏ, lên án./. 

Jan 10, 2016

CHỈ LÀ SỰ SUY DIỄN

Tre Việt - Đã thành thông lệ, càng gần đến ngày Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lại càng có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề nhân sự, nhất là vị trí “tứ trụ”. Nhiều người quan tâm đến đời sống chính trị của đất nước là điều đáng mừng, nhưng những ý kiến quan tâm bình phẩm, suy diễn, xuyên tạc, dựng chuyện, bịa đặt nhằm lung lạc, hoặc reo rắc sự hoài nghi của một bộ phận nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng thì cần cảnh giác và lên án. Bài viết: “Gay cấn đến cùng” trên trang Người Buôn Gió, ngày 09/01/2016 và một số trang lề trái lăng xê là một bài viết như thế.
Bài viết này dựng chuyện, trong Bộ Chính trị đang có cuộc đấu đá phe, nhóm nhằm tranh giành vị trí Tổng Bí thư của Đảng. Họ bịa đặt, đưa ra các tình tiết có vẻ ly kỳ, nhằm đánh lừa những người nhẹ dạ cả tin, để cho rằng, trong Bộ Chính trị đang mâu thuẫn sâu sắc. Bằng cách dẫn ra một số đơn thư chưa kiểm chứng, nhưng họ cứ khăng khăng cho đó là đơn thư thực của người này, cựu quan chức kia ủng hộ người này, tố cáo người khác là do đấu đá trong phe nhóm ở Bộ Chính trị. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Quy định 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều (19 điều) đảng viên không được làm, được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đồng tình ủng hộ và nhận thấy đó là những việc Đảng phải có quyết tâm chính trị rất cao trong thực hiện để Đảng trong sạch, vững mạnh đủ sức lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế mà, họ xuyên tạc một cách sống sượng rằng, đó “là những thứ để tấn công gây sát thương” cho đối thủ trong cuộc chạy đua vào chức Tổng Bí thư (!). Nghị quyết mang số 244 được thống nhất trước đây trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chỉ cho phép Bộ Chính trị đưa ra ứng cử viên thì họ lại bịa đặt rằng: “Nghị quyết 244 là dây thừng buộc chân” không cho đối thủ “tiến đến vùng an toàn”. Họ cố tình làm ngơ trước nguyên tắc lãnh đạo của Đảng là Đại hội đại biểu của Đảng có quyền cao nhất, quyết định tất thảy các vấn đề về Đảng và xây dựng Đảng; giữa hai kỳ đại hội là Ban Chấp hành Trung ương, thường xuyên và trực tiếp là Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Thế thì, Nghị quyết 244 đã được Ban Chấp hành Trung ương thảo luận thống nhất, biểu quyết là thể hiện ý chí của toàn Đảng, hà cớ gì lại cho đó là “dây thừng buộc chân” đối thủ (?!). Đó chẳng phải là sự suy diễn lố bịch sao?
Về công tác nhân sự của Đảng, ai cũng biết từ trước đến nay ở tất cả các cấp đều phải thực hiện theo quy chế bầu cử, quy chế này được xây dựng và tập thể thảo luận dân chủ, thống nhất đưa vào thực hiện. Đồng thời, mỗi vị trí lãnh đạo đều có các tiêu chuẩn phù hợp, được định lượng một cách cụ thể, không chung chung, để tránh tình trạng bầu theo cảm tính. Thế mà người ta lại cho rằng, việc xây dựng quy chế bầu cử, đưa ra các tiêu chí như Hội nghị Trung ương 11 (khóa XI) là nhằm loại trừ đối thủ vào vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng (!).

Vậy nên, trong tình hình hiện nay, mỗi người cần cảnh giác trước những thông tin thất thiệt trên các trang “lề trái”, để tránh mắc mưu những kẻ có lòng dạ đen tối./.

Dec 28, 2015

MINH TRIẾT THẾ SAO?

Tre Việt - Ngày 26-12-2015, Nguyễn Khắc Mai có bài viết: “Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam đối diện với Năm Chữ Chính” được một số trang mạng “lề trái” đăng tải. Đọc bài viết, thấy rõ ông ta dẫn ra những kiến thức làm ra vẻ mình là người am hiểu, nhưng thực chất chỉ là “thùng rỗng kêu to”. Tác giả Đông La trong bài viết: “Minh triết du côn” đã viết: “Nguyễn Khắc Mai là đương kim Giám đốc Trung tâm Minh Triết Việt Nam, một trung tâm ra đời năm 2008, thuộc Liên hiệp các hội KHKT,… Hai chữ minh triết tưởng dễ hiểu nhưng không ngờ giới “tinh hoa” nước mình cũng lại hiểu lung tung đến vậy”. Đông La dẫn ra quan niệm của một số tác giả và chỉ ra các quan niệm đó đúng sai như thế nào; trong đó, có quan niệm của Nguyễn Khắc Mai và kết luận: “Như vậy, Nguyễn Khắc Mai, một người chưa hiểu chính xác chữ minh triết, lại làm giám đốc một trung tâm minh triết, rồi bàn về minh triết e rằng sẽ có nhiều huyên thuyên”!
          Đúng vậy. Về tính chính danh của Đảng Cộng sản Nguyễn Khắc Mai viết: “Có rất nhiều sự rối loạn về chính danh của Đảng Cộng sản. Thứ nhất là danh xưng “Cộng sản” không phản ảnh đúng cái tên Kommunismus. Thuật ngữ này trong tiếng Đức, Anh, Pháp, Nga… đều được hiểu là chủ nghĩa cộng đồng. Chữ cộng sản, nhiều người cho là người Nhật dịch đầu tiên rồi truyền sang Tàu, vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ XX”. Về vấn đề này, trên trang http://cunom.blogspot.com/ có bài nguyễn-khắc-mai-bịa-đặt-về-chủ-nghĩa cộng sản đã viết: “Lần đầu tiên tôi được biết đến ông Nguyễn Khắc Mai là qua một bài viết có tên là “Minh Triết Các Mác hay những nghịch lý cộng sản”. Than ôi, đó là một bài viết đầy những dối trá, bịa đặt và xuyên tạc tư tưởng của Marx”; “Khái niệm minh triết của ông Nguyễn Khắc Mai là một thứ chủ nghĩa duy linh đội lốt khoa học, thế nên nó được học bằng thần hứng (trực cảm, tâm linh). Nói nôm na là người ta có thể sẽ gọi hồn ông Marx lên để học tư tưởng Marx cho nhanh”; “ông Nguyễn Khắc Mai bịa đặt hoàn toàn về từ “Kommunismus” [một từ tiếng Đức], nếu tra từ đó bằng tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp hay bất cứ thứ tiếng nào, với bất cứ từ điển nào thì kết quả đều là khái niệm về “chủ nghĩa cộng sản”, nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế. Khái niệm “chủ nghĩa cộng đồng” mà ông Nguyễn Khắc Mai cho là đúng thì trong tiếng Đức người ta dùng một từ khác để diễn đạt, đó là từ “Kommunalismus”. Các ngôn ngữ khác cũng có từ tương tự, “chủ nghĩa cộng đồng” là một khái niệm đề cập đến văn hóa và chủng tộc. Chả biết minh triết rồi sẽ đi đến đâu, nhưng “ngu” triết thì đã rất rõ ràng”.
Còn Lữ Phương trên vietstudies với bài MinhTrietTheNaySao? Khi thấy Nguyễn Khắc Mai viết: “Cái gọi là giá trị minh triết đầu tiên của C. Mác là sự thừa nhận không có chủ nghĩa cộng sản. Hai ông nhiều lần khẳng định điều này (xem Ăng ghen trả lời phỏng vấn của K. Heinzen, cũng như bài tựa tác phẩm Cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp)”, đã: “nhận ra những sai lầm không thể nào tưởng tượng nổi của một nhân vật “hiện là giám đốc Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Minh Triết”. Bởi theo Lữ Phương: “điều ông Mai gọi là “Ăng ghen trả lời phỏng vấn của K. Heinzen” thực sự là những lời luận chiến phê phán những nhận xét sai lầm của K. Heinzen về chủ nghĩa cộng sản của Marx: “Heinzen hình dung… Chủ nghĩa cộng sản không phải là một học thuyết mà là một phong trào đem vào thực hiện không phải từ những nguyên lý mà từ các sự kiện”; mà theo Ăng ghen: “Trong chừng mực là một lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản là biểu hiện lý luận vị trí của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và vô sản, là sự tổng kết những điều kiện cho sự giải phóng giai cấp vô sản”. Lữ Phương kết luận: “Tôi hết sức ngạc nhiên về thái độ quá dễ dãi (hoàn toàn thiếu thận trọng) trong cách đọc văn bản của ông Nguyễn Khắc Mai cũng như cách ông viện ra khái niệm gọi là “giá trị minh triết” để giải thích xuyên tạc tư tưởng của Marx”.
Nguyễn Khắc Mai còn nhắc lại cuốn sách Hồ Chí Minh sinh bình khảo (khảo cứu cuộc đời của Hồ Chí Minh)” của Hồ Tuấn Hùng (xưng là cháu nội của nhân vật trong sách) để đặt sự nghi ngờ Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người(!). Ông Mai là cử nhân lịch sử, nghiên cứu về lịch sử mà còn đặt câu nghi vấn theo kiểu “ăn theo nói leo” không có sự tư duy chỉ biết nói theo như con vẹt là sao? Điều hiển nhiên như thế mà còn nghi ngờ. Ông quả là người hoang tưởng. Vết sẹo ở dáy tai của Hồ Chí Minh khi còn nhỏ đi câu cá bị lưỡi câu ngoắc phải, chị gái đến thăm những năm đầu Người làm Chủ tịch nước đã nhận ra và thốt lên: “đây rồi, đúng cậu ấy đây rồi” nói lên điều gì? Khi về thăm quê, Người cùng bạn bè thủa nhỏ ôn lại kỷ niệm chứng tỏ cái gì thưa ông? Ông đòi Đảng, Nhà nước phải làm rõ việc này, thì chỉ có những đứa trẻ thiểu năng mới tin tin đồn của trẻ trâu ông Mai ạ. Ông có phải là thiểu năng đâu, mà là giám đốc Trung tâm Minh Triết Việt cơ mà!? Lại lần nữa thấy rõ cái gọi là minh triết của ông nó như thế nào.
          Với minh triết của ông Nguyễn Khắc Mai như vậy, nên ông ta viết về Đảng: “Cho đến khi cùng đường thì phải “đổi mới”, thực chất là thực hiện dè dặt những hình thức và phương thức của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên do thực hiện những hình thức tư bản chủ nghĩa mà vẫn duy trì Marx – Lenin nên về cơ bản không thể thực hiện phương thức tư bản chủ nghĩa hiện đại, thành ra đã sản sinh một thứ chủ nghĩa tư bản vừa hoang dã vừa quái dị với những quan hệ xã hội rất phong kiến”. Điều đó chứng tỏ ông ta chưa nghiên cứu chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I. Lê-nin. Chính sách ấy đã thực hiện những hình thức kinh tế trung gian, với bước đi quá độ, nhằm bắc những “chiếc cầu nhỏ” để đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhờ thực hiện chính sách kinh tế mới mà Liên Xô đã vượt qua được những khó khăn chồng chất của những năm đầu mới giành được chính quyền, mặc dù khi đó bị 14 nước đế quốc bao vây. Không những thế, Liên Xô còn đánh bại phát xít Đức, cứu loài người khỏi hiểm họa diệt chủng của chủ nghĩa phát xít. Nước ta ngày nay đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên còn những mảng, những bộ phận chưa phải của chủ nghĩa xã hội, chưa có chủ nghĩa xã hội đích thực. Đảng, Nhà nước ta đang tiếp thu thành tựu của nhân loại để xây dựng đất nước. Đó là thành tựu về khoa học - công nghệ, về quản lý kinh tế và nguồn vốn thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thực chất là chấp nhận hình thức xuất khẩu tư bản. Vì thế, Nguyễn Khắc Mai cho rằng “thực chất là thực hiện dè dặt những hình thức và phương thức của chủ nghĩa tư bản”, chính là sự khôn khéo của giai cấp vô sản đã bắt giai cấp tư sản phải cày trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước (bởi ở đó đã có ¾ là chủ nghĩa xã hội như V.I. Lê-nin nhận xét) để xây dựng đất nước theo yêu cầu của giai cấp vô sản.
Nguyễn Khắc Mai cho rằng: “Chỉ mỗi mình Đảng là đang hoạt động không có luật định. Vì thế tính chính thống của Đảng hiện nay là nửa vời”(!). Đảng là một tổ chức chính trị thuộc hệ thống chính trị. Vì vậy, Đảng cũng như các tổ chức chính trị khác của hệ thống chính trị phải chấp hành Hiến pháp và hệ thống pháp luật của đất nước, chẳng nhẽ ông không thấy sao? Không những thế, Đảng và mỗi đảng viên của Đảng còn phải chấp hành Điều lệ Đảng, đây cũng có thể coi là Luật Đảng; đồng thời, chấp hành những điều đảng viên không được làm theo Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Như vậy, những điều mà công dân khác làm được, nhưng là đảng viên của Đảng thì không được làm. Chẳng nhẽ đó không phải là luật sao mà ông nói Đảng “hoạt động không có luật”?

          

Nov 30, 2015

KHÔNG PHẢI CỨ ĐA ĐẢNG LÀ CÓ DÂN CHỦ HƠN

Tre Việt - Có ý kiến cho rằng, thực hiện đa đảng, có nhiều đảng cạnh tranh nhau thì sẽ dân chủ hơn, sẽ tốt hơn một đảng! Có đúng như vậy không? Câu trả lời là không. Hãy xem chính người Mỹ nói về nước Mỹ - một nước thực hiện chế độ đa đảng, thực chất là thế nào. Họ nói rằng, nước Mỹ là một nước “tự do”, người dân được tự do biểu tình, báo chí được tự do phanh phui những chuyện nhạy cảm, xuyên tạc, bôi xấu lẫn nhau vì sự cạnh tranh, hạ uy tín của đảng này với đảng phái kia, v.v. Nhưng điều đó không phải là bản chất thực sự của dân chủ, xin minh chứng bằng câu nói của giáo sư Paul Mishler, trường Đại học bang Indiana của Mỹ: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học... đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”[1].
Như vậy, có thể rút ra một số vấn đề sau: thứ nhất, chế độ đa đảng của nước Mỹ “thực chất chỉ là một đảng”, là sự cầm quyền của đảng tư sản; thứ hai, dân chủ ở nước Mỹ là dân chủ tư sản, không phải là dân chủ của đa số, không thực hiện quyền lực thực sự thuộc về nhân dân; thứ ba, thực chất đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản. Và, bất cứ một nền dân chủ nào, cũng đều nhằm đảm bảo sự thống trị của giai cấp thống trị, cầm quyền. Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà nó phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền phục vụ cho giai cấp nào. Bản thân nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động làm thuê. Trong các nước tư bản chủ nghĩa, dù tồn tại đa đảng và các đảng đối lập, nhưng vẫn định hình một đảng cầm quyền. Chính trường ở đó thường xuyên diễn ra các cuộc tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị tư sản. Họ chỉ đa nguyên, đa đảng trên hình thức, còn trên thực tế đều tỏ rõ sự nhất nguyên, bởi đảng chính trị tư sản nào cũng không bao giờ xa rời mục đích bảo vệ cho quyền thống trị và sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Ở các nước đó, chưa bao giờ có chuyện Đảng Cộng sản cầm quyền cả.
Không phải cứ đa nguyên, đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ. Cũng không phải một đảng là trở ngại của sự phát triển dân chủ. Nêu lên quan điểm này người ta đã vô tình, hoặc cố ý không tính đến sự khác biệt bản chất giữa các đảng chính trị tư sản và cộng sản, giữa dân chủ tư sản và dân chủ XHCN. Với thực tiễn và đổi mới của Việt Nam, không ai có thể phủ nhận được những bước tiến rõ rệt về dân chủ mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được trong những năm qua, trong nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền, trong thực hành dân chủ, đặc biệt là sự thừa nhận của chính người dân, về những nỗ lực của chúng ta trong việc thực hiện tính công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý, trong tranh luận, thảo luận, trong bầu cử, trong cải cách hành chính và cải cách tư pháp, v.v. Thành tựu của đổi mới sở dĩ có được là nhờ lực đẩy của dân chủ hóa và chính dân chủ là một trong những thành tựu nổi bật của đổi mới. Cuộc thảo luận rộng rãi trong toàn dân đóng góp cho Văn kiện Đại hội XII của Đảng là một minh chứng rõ rệt cho sự quan tâm đầy trách nhiệm của người dân đối với Đảng và Nhà nước của mình, cũng như nhân dân đã tham gia vào công việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị. Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội kỳ họp cuối khóa XIII vừa bế mạc là một thí dụ khác. Đó là những bằng chứng nói lên sức sống của đời sống chính trị dân chủ ở nước ta. Bởi thế, chắc chắn là, đông đảo các tầng lớp nhân dân sẽ có tiếng nói phê phán với những hoạt động tuyên truyền, những lời kêu gọi đòi đa nguyên, đa đảng ở nước ta. Cuộc sống vốn tường minh và nhân dân vốn sáng suốt, công bằng, nhạy cảm đủ sức sàng lọc, phân định để làm rõ chân và giả, thiện chí xây dựng và những toan tính sai lầm, gây hại cho dân, cho nước. Nhân dân đón nhận và ủng hộ những gì công tâm, chính trực và chối từ những ngụy tạo, ác ý.
Tôn trọng sự thật và chân lý để hành động có trách nhiệm, đó là thái độ và sự lựa chọn của chúng ta. Trên tất cả các phương diện từ lý luận khoa học đến thực tiễn chính trị cũng như sự trong sáng đạo đức, những ai thiện tâm, thiện chí, vì Tổ quốc, dân tộc và nhân dân đều thấy rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền là một thực tế lịch sử, không gì có thể làm dao động lý trí và tình cảm của chúng ta. Điều 4 Hiến pháp 2013 đã khẳng định về vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng. Đó là ý chí của dân, nguyện vọng của dân, đạt được sự đồng thuận rất lớn của xã hội. Đảng ta trong nhận thức và đánh giá của dân, có đầy đủ tính chính đáng pháp lý và sự xứng đáng về phẩm giá và uy tín của một Đảng lãnh đạo và cầm quyền.
Đảng cần ra sức tự vượt lên những hạn chế và khiếm khuyết bằng cách tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xứng đáng với trọng trách của mình và niềm tin của nhân dân. Đóng góp vào công việc hệ trọng này là hành động có trách nhiệm của mỗi đảng viên và mỗi người dân. Bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ, về thực chất là bảo vệ dân, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của dân, hiện tại cũng như lâu dài./.



[1] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 7 (106), 2009, tr. 87-89

Nov 17, 2015

CHỌN NHẦM MẶT ĐỂ GỬI VÀNG

       Tre Việt - “Những ai đã phản bội ông cha?” là bài viết của Nguyễn Đình Cống đăng trên Blog Bùi Văn Bổng, ngày 15/11/2015. Đọc bài viết thấy nuối tiếc vì khi đất nước có chiến tranh, nhân dân đã không tiêc tiền của cho Nguyễn Đình Cống đi học ở Liên Xô, mà giờ đây ông ta lại trở cờ. Thật là chọn nhầm mặt để gửi vàng. Thật tiếc lắm thay!
          Mở đầu bài viết, Nguyễn Đình Cống đặt vấn đề rất đúng rằng, “Ông cha của phần đông chúng ta đã theo Đảng Cộng sản, tôn sùng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, làm cách mạng để giành độc lập, mang tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân. Nhiều người đã hy sinh xương máu. Thế mà giờ đây có một số người phê phán và đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đòi xóa hoặc đổi tên Đảng Cộng sản. Những người như vậy liệu có phản bội lại sự hy sinh của thế hệ ông cha, liệu có vi phạm vào đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”. Đó là vấn đề được nhiều bạn trẻ đặt ra yêu cầu giải đáp. Tôi viết để trả lời câu hỏi đó”. Nhưng rất tiếc ông ta lại trả lời sai. Trả lời của Nguyễn Đình Cống cho thấy chính ông chứ không phải ai khác đã phản bội ông cha. Tại sao lại nói vậy?
          Khi đất nước phải chống sự xâm lược, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, Nguyễn Đình Cống được Đảng, Nhà nước gửi sang Liên Xô học tập, những mong ông mang kiến thức về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng giờ đây, ông lại viết kêu gọi lớp trẻ từ bỏ con đường ông cha đã chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông Cống cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sai lầm (!). Xin thưa, ai cũng biết, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên hành trình đi tìm đường cứu nước theo lời kể của Người, khi được đọc Luận Cương về vấn đề dân tộc thuộc địa của V. I. Lê-nin, Người đã sung sướng, ngồi một mình trong phòng mà đọc to lên, như nói trước đồng bào mình: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là cái giải phóng chúng ta. Đó chính là con đường cách mạng vô sản. Từ đó, Người tin theo V. I. Lê-nin và đi theo Cách mạng Tháng Mười. Do vậy, phải thành lập ra Đảng để lãnh đạo cách mạng. Đảng muốn lãnh đạo cách mạng thì phải có lý luận cách mạng, phải có “chủ nghĩa làm nòng cốt” nếu không thì như “thuyền không có lái”, như “người đi trong đêm tối” - Nguyễn Ái Quốc khẳng định. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Báo Thanh niên (21/6/1925) để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin về nước là vì thế. Cho nên, năm 1930 Đảng Cộng sản được thành lập. Điều đó chứng minh Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời từ ba thành tố: từ chủ nghĩ Mác – Lê-nin, từ phong trào công nhân và từ chủ nghĩa yêu nước. Đồng thời, bác bỏ ý kiến của ông Cống cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là từ chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Ông Cống đã tuyệt đối hóa chủ nghĩa yêu nước mà bỏ qua hai thành tố kia cho thấy sự phiến diện với ý đồ không trong sáng của ông ta. Ai cũng biết, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các cuộc vận động, phong trào, khởi nghĩa của nhân dân ta liên tục diễn ra với các phương án cứu nước khác nhau do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo nhưng đều thất bại. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có đường lối, phương pháp, tổ chức đấu tranh đúng mới lãnh đạo nhân dân ta giành được thắng lợi. Vậy, chủ nghĩa Mác – Lê-nin lại sai sao ông Cống? Chỉ với chủ nghĩa yêu nước mà không có chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nhân dân ta có giành được thắng lợi đâu, thưa ông!
Ông Cống đã đúng khi cho rằng: “Tiêu chuẩn để đánh giá một học thuyết chính trị là thực tế thu được khi áp dụng nó vào cuộc sống chứ không phải do suy luận”. Mắt ông để đâu? Đầu ốc ông đâu rồi? mà không thấy, khi áp dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã mang lại kết quả to lớn thế nào. Nhắc ông rằng, nhân loại vừa kỷ niệm 70 năm Chiến thắng phát xít; trong đó nhân dân và Hồng quân Liên Xô đóng vai trò quyết định. Đấy là nhờ áp dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Cũng áp dụng chủ nghĩa ấy mà bố mẹ ông, ông và con cái ông nữa không phải sống kiếp ngựa trâu đấy thôi. Về kinh tế, dù có xuyên tạc thế nào cũng không thể phủ nhận được thành quả của nhân dân Liên Xô trước đây, thành quả của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đến nay.
Ông Cống lại đúng nữa khi cho rằng: “Giá trị thực của học thuyết nằm ở bản chất của nó, được xây dựng nên từ những luận cứ và luận chứng đầy đủ, minh bạch, chính xác, trung thực”. Ông nói được học chủ nghĩa Mác – Lê-nin nhiều ở cả trong nước và ở Liên Xô nữa, vậy ông “quên” chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã kế thừa và phát triển từ Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổ điển Anh và Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp hay sao? Đó không phải là những “luận cứ”, “luận chứng” à? Ông Cống với lòng dạ không trong sáng đã đánh đồng chế độ cộng sản với chế độ diệt chủng ở Cam-pu-chia. Điều đó cho thấy ông nói học chủ nghĩa Mác – Lê-nin nhiều, mà ông chẳng hiểu gì cả. Thật phí công, tiếc cho tiền của, mồ hôi, công sức của nhân dân đã bỏ ra cho ông ăn học không chỉ trong nước mà còn ở Liên Xô nữa. Chính nhân dân mới là người nuối tiếc vì đã chọn nhầm mặt để gửi vàng.

 Ông hồ đồ kết luận: “những người phê phán và vận động từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin mới là người yêu nước, yêu dân thật sự” (!). Ông không thấy, không biết hay cố tình làm ngơ, nhà xuất bản ở Đức giữ bản quyền tác phẩm Tư bản của C. Mác đã phải tái bản nhiều lần để đáp ứng nhu cầu tìm đọc, nghiên cứu của chính các nhà tư sản. Vì qua tác phẩm đó của C. Mác các nhà tư sản tìm được câu trả lời, giúp sản xuất, kinh doanh của họ vượt qua được khủng hoảng kinh tế. Vậy mà ông kêu gọi từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Ông Cống đúng là người đã phản bội lại ông cha./.

Nov 13, 2015

Ý TƯỞNG NGÔNG CUỒNG

          Tre Việt - Lang thang trên mạng thấy: Cù Huy Hà Vũ ngông cuồng kêu gọi thực hiện “Cuộc cách mạng bất bạo động cho Việt Nam”. Chúng ta không ai lạ gì Cù Huy Hà Vũ. Hắn vi phạm pháp luật, bị tòa kết án 7 năm tù, rồi được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước. Ra tù, Vũ sang Mỹ tiếp tục phản bội Tổquốc. Hắn lên tiếng trình báo cho “đồng đảng” trên Đài BBC tiếng Việt bằng những lời nói sặc mùi chính trị: Chế độ chính trị ở Việt Nam rõ ràng là chế độ “độc tài - toàn trị”. Bởi vậy, một cuộc “cách mạng mới là cần thiết và cấp bách để cứu dân, cứu nước”!
         Trong lúc tình hình đất nước, khu vực và thế giới có những diễn biến phức tạp, nhiều nước lâm vào khủng hoảng chính trị, kinh tế, xung đột, chiến tranh, nhất là kinh tế nhiều nước suy thoái. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang nỗ lực phấn đấu để đưa nước nhà thoát khỏi tình trạng đó, thì Vũ lại là người làm phức tạp thêm tình hình, gây bất ổn chính trị ở trong nước, hòng lôi kéo các tổ chức phản động, các nước có mối thâm thù với Việt Nam vào cuộc. Nhưng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự cổ vũ, hưởng ứng nhiệt tình, triệu người như một của nhân dân, Việt Nam đã phát triển ngoạn mục, được thế giới đánh giá là “điểm sáng” về phát triển kinh tế. Ngân hàng thế giới (WB) đã dự báo nâng mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam lên mức 6,2 % năm 2015 và 6,3% năm 2016. Hãng tin Bloomberg của Mỹ, ngày 29-9-2015 cho rằng: “kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh vượt nhiều nước, sản phẩm quốc nội GDP của Việt Nam quý 3-2015 tăng 6,81% so với một năm trước, tựu trung 9 tháng qua tăng 6,5%”. Mạng tin châu Âu - Europe Presse Image, ngày 26-9-2015 nhận định: “Nhờ môi trường chính trị ổn định, Việt Nam đứng đầu các nền kinh tế về thu hút vốn đầu tư nước ngoài… từ nay đến năm 2050, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Đây chính là những điều tích cực về mô hình một đảng” cầm quyền.
Chẳng lẽ tất cả những thành tựu ấy, sự thật ấy lại chứng tỏ chế độ một đảng lãnh đạo ở Việt Nam là “độc tài - toàn trị” tệ hại đến mức phải phát động “cách mạng bất bạo động” nhằm lật đổ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để “thiết lập nền dân chủ - đa đảng”? Thực tế cho thấy, ở Việt Nam không có cơ sở chính trị, xã hội và nhu cầu của đại đa số nhân dân về một “nền dân chủ - đa đảng” như mưu đồ của Vũ. Thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tuyệt đại đa số nhân dân đều hiểu rằng: Bản chất cốt lõi nhất của dân chủ là bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; thể chế chính trị nào đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của đại đa số nhân dân, của dân tộc thì thể chế đó sẽ có sức sống lâu dài, mãnh liệt, không phụ thuộc vào một đảng hay đa đảng... Vấn đề quan trọng quyết định không phải là ở số lượng mà là ở chất lượng của đảng, tức là đảng đó là đảng của ai, được tổ chức, hoạt động như thế nào và vì lợi ích của ai, mối quan hệ với nhân dân như thế nào, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân ra sao, có được đại đa số nhân dân ủng hộ hay không… Chế độ chính trị của Việt Nam là kết quả của tiến trình lịch sử cụ thể của Việt Nam, trong đó có sự ủng hộ, ủy nhiệm rộng rãi của nhân dân đối với vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn cuộc đấu tranh lâu dài giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đổi mới, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trả lời phỏng vấn báo chí trước chuyến thăm Nhật Bản trung tuần tháng 7-2015 vừa qua.
Đành rằng, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng mắc phải một số hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai lầm. Đó cũng là lẽ thường khó tránh khỏi. Cái chính là Đảng ta đã nhìn thấy, nhận ra và kiên quyết khắc phục, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vì vậy, Tre Việt có lời khuyên Vũ, rằng: hãy đến thăm các nhà nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế thuộc Trường Đại học Ha-vớt (Hoa Kỳ) và xin được tiếp xúc với công trình mà họ cùng Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) nghiên cứu, xem họ đã rút ra kết luận gi? Có phải: “Ở Việt Nam, trong tương lai khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam…”. Vậy, lời kêu gọi của Vũ chỉ là ảo tưởng ngông cuồng./.

SỰ ẢO TƯỞNG CỦA NHỮNG KẺ KHOÁC ÁO DÂN CHỦ

Tre Việt - Hiện nay, trên các trang mạng xã hội do “các nhà dân chủ” quản trị cụm từ, như: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn, độc tài” xuất hiện với tần xuất cao. Cùng với đó là những “Lời kêu gọi”, “Kiến nghị”,… đòi “Hạ bệ vai trò của Đảng Cộng sản”, thực hiện đa nguyên chính trị,… theo kiểu phương Tây. Thật là ảo tưởng!
Họ cho rằng “Kịch bản của Đảng Cộng sản Việt Nam không khác với Liên Xô là mấy”!? Vì thế, chúng tìm mọi thủ đoạn từ “đấu tranh bất bạo động” gắn mác “dân chủ, nhân quyền”, đến tổ chức lập hội, lập bè, lôi kéo người dân tham gia thực hiện những hoạt động trái pháp luật, như: tụ tập đông người, tuần hành, biểu tình,… để phản đối đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước,… hòng làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Chúng hy vọng rằng: “Kịch bản xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã thành công ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, ắt sẽ có ngày thắng lợi ở Việt Nam!?”. Để thực hiện mưu đồ này, chúng tích cực lôi kéo, đào tạo đám lưu manh mang danh “Các nhà hoạt động dân chủ”, “dân oan”, “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động nhân quyền” và “tù nhân lương tâm”,… điên cuồng tấn công vào nội bộ, bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, tác động sâu vào tư tưởng, niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chúng đưa ra luận điệu và tìm cách chứng minh rằng: “chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là đối lập với dân chủ, độc nhất với độc tài, cản trở sự phát triển” và “chỉ có đa nguyên, đa đảng mới có thể khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội!?”. Những luận điệu này, thực chất là nhằm che đậy mục đích hạ bệ Đảng Cộng sản, hướng lái đất nước Việt Nam phát triển theo chủ nghĩa tư bản. Cả về lý luận và thực tiễn đã chứng minh rõ dân chủ không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị mà điểm mấu chốt là bản chất chính trị của đảng cầm quyền. Điển hình như ở Chi-lê, Chính phủ quân sự do Pi-nô-chê đứng đầu, hay ở Phi-lip-pin thời chính quyền F. Mac-cốt tồn tại chế độ độc tài trong môi trường chính trị đa đảng. Trong thực tiễn, chúng thường viện dẫn và xuyên tạc sự thật lịch sử để cố chứng minh rằng “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không “tiếm quyền” thì Việt Nam đã đứng trong danh sách những nước phát triển?!”, rồi “Đảng chỉ lãnh đạo trong chiến tranh, còn trong xây dựng kinh tế thì nên trao quyền cho lực lượng chính trị khác”, v.v. Chúng đòi Đảng Cộng sản Việt Nam tự nguyện rời bỏ vai trò lãnh đạo của mình, xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội.
Tuy nhiên, lịch sử là hiện thực sống động nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc mà đám cơ hội khoác áo dân chủ đang tuyên truyền. Cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu thế kỷ XX, nhân dân Việt Nam sống cuộc đời nô lệ “một cổ hai tròng”. Không cam chịu ách thống trị hà khắc của thực dân Pháp và chế độ phong kiến thối nát, nhân dân Việt Nam đã vùng lên đấu tranh dưới các ngọn cờ lãnh đạo theo hệ tư tưởng phong kiến, hay lập trường nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Đó là các phong trào: Cần Vương, Yên Thế, cuộc vận động Duy Tân, Đông kinh nghĩa thục, Phong trào Đông Du, v.v. Mặc dù các phong trào đó thể hiện quyết tâm, khí thế và tinh thần yêu nước bất khuất, kiên trung ngút trời của nhân dân Việt Nam, nhưng đều lâm vào bế tắc, bị đàn áp dã man, rồi cuối cùng thất bại. Thời gian này, hàng loạt tổ chức đảng phái chính trị ra đời, như: Hội Phục Việt (năm 1925), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927),... với nhiều cương lĩnh chính trị khác nhau, nhằm chiếm lĩnh vũ đài lịch sử, nhưng tất cả những ngọn cờ này đều nhanh chóng bị hạ xuống, bởi không phù hợp với xu thế thời đại, không thỏa mãn được lợi ích và nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc.
Ngày 03-02-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với cương lĩnh, đường lối cứu nước đúng đắn, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước, đánh dấu sự kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Vậy là, chính thời đại và nhân dân đã trao trọng trách lãnh đạo dân tộc, đất nước cho Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ đâu phải là “tiếm quyền” như sự xuyên tạc của những kẻ cơ hội. Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng được nhân dân giao trọng trách vinh quang đó. Bởi, Đảng là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đó là điều mà không một đảng phái nào khác trong lịch sử Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể gánh vác nổi. Từ khi ra đời, lãnh đạo đất nước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ vai trò đối với đất nước, dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi vĩ đại: Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan chế độ thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vững vàng bước vào công cuộc đổi mới để “xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Thực tiễn 85 năm qua đã chứng minh cho toàn thế giới thấy rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh: Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hiện nay, tuy còn không ít khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn có sự phát triển ổn định, vững chắc về mọi mặt. Nền kinh tế phát triển năng động, ổn định, hiệu quả; đời sống của nhân dân được cải thiện, chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp định thương mai xuyên Thái Bình Dương (TPP); là Ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009; Ủy viên Hội đồng nhân quyền; Ủy viên Hội đồng kinh tế - xã hội, Ủy viên Hội đồng UNESCO Liên hợp quốc,… Việt Nam có quan hệ trên 180 nước và nền kinh tế, vùng lãnh thổ; trong đó, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam là điểm đến đầu tư của các thể chế kinh tế, nhà đầu tư có uy tín trên thế giới. Hàng loạt chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước Việt Nam đến một số nước Tây Âu, Đông Âu, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc,… và ngược lại đã khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường quốc tế, tự nó đập tan những luận điệu sai trái của những kẻ cơ hội, khóa áo dân chủ.
Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận rõ có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm và nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, tiếp tục lãnh đạo để đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam tiến lên. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm và biện pháp khắc phục. Hành động quang minh chính đại đó không chỉ phản ánh đúng tâm trạng của đảng viên, mà còn là tâm nguyện của mọi tầng lớp nhân dân, vì thế được nhân dân tin tưởng. Trên thế giới, nước nào cũng có đảng chính trị lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước, khác nhau ở chỗ, nước đó có một đảng hay nhiều đảng và đảng cầm quyền đứng trên lập trường nào. Thực tiễn chứng minh: Đảng cầm quyền nếu không thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn để luôn trong sạch, vững mạnh thì vai trò cầm quyền của Đảng sẽ bị lu mờ và tự đánh mất vai trò lãnh đạo của mình. Điều này đã trở thành nguyên tắc. Cả về lý luận và thực tiễn đã chứng minh: “Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng “đạo đức, trí tuệ, văn minh”, lãnh đạo, tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những âm mưu, thủ đoạn của những kẻ cơ hội khoác áo dân chủ, giả danh, giả nghĩa có thâm hiểm đến đâu cũng chỉ là ảo tưởng. Nhân dân Việt Nam luôn nhận rõ và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./. 

Oct 29, 2015

SỰ SUY DIỄN LỐ BỊCH

        Đảng ta công bố Dự thảo các văn kiện Đại hội XII của Đảng với mong muốn đón nhận, tiếp thu những đóng góp hợp lý của nhân dân để bổ sung, hoàn thiện đường lối lãnh đạo trong nhiệm kỳ tới. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch tăng cường chống phá, trong đó việc thổi phồng những yếu kém bất cập để rồi suy diễn, xuyên tạc là một chiêu trò của chúng.

Trong Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội XII, Đảng ta đánh giá: “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như nguy cơ “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông mạng Internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”. Đó là thể hiện tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc, dũng cảm, nhìn thẳng vào sự thật, không che dấu khuyết điểm; đồng thời, thể hiện sự cảnh tỉnh, phản tỉnh sâu sắc cũng như ý thức cầu thị của Đảng trước vận mệnh của Tổ quốc và chế độ. Lợi dụng điều này, một số kẻ mang danh nhà “dân chủ” ra sức thổi phồng, phóng to sự đánh giá hết sức khách quan, trung thực, cầu thị trên. Từ đó, họ cho rằng bốn nguy cơ: tụt hậu về kinh tế; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan niêu; “diễn biến hòa bình” được nói đến lần đầu tiên tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01-1994), 21 năm sau chúng chẳng những vẫn tồn tại mà còn khỏe mạnh hơn. Như vậy là Đảng đã thất bại. Nếu bảo thành công thì tại sao từ “bốn nguy cơ” lại đẻ thêm ra hai nguy cơ cực kỳ nguy hiểm được gọi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng? Vì vậy giấc mơ xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” từ khi có đổi mới năm 1986 cũng đã tan ra mây khói, v.v.
Thật trơ trẽn khi đưa ra nhận định trên, họ không những không khách quan, thiếu căn cứ thực tiễn, phi lô-gích, không xuất phát từ cơ sở luận cứ nào, mà họ còn cố tình giả mù, giả điếc trước những thành tựu của Việt Nam đạt được trong công cuộc đổi mới gần 30 mươi năm qua. Hiện Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, quy mô và tiềm lực kinh tế liên tục tăng lên, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam bình quân giai đoạn 1990 - 2014 đạt 6,9% năm; riêng GDP năm 2015 đạt khoảng 204 tỷ USD gấp 30 lần năm 1990; thu nhập bình quân năm 1990 đạt 96 USD/người, thì năm 2015 đạt 2.200 USD/người, tăng gấp 21 lần so với trước thời kỳ đổi mới (năm 1986). Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới tại Hội nghị Đối tác Phát triển Việt Nam (ngày 05-12-2014), trong giai đoạn khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (2008 - 2013), tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 4,6%, trong khi đó: In-đô-nê-xi-a là 4,5%; Phi-líp-pin là 3,3%; Thái Lan là 2,7%, Ma-lai-xi-a là 2,6%. Đây liệu có phải là bằng chứng đủ làm sáng mắt những nhà “dân chủ” giả mù hay suy diễn? Nếu chưa thuyết phục thì những nhà “dân chủ” chống mắt mà nhìn cho rõ: trước đổi mới Việt Nam phải nhập khẩu lương thực thì đến nay lại là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới; mới nhất, ngày 05-10-2015, Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới. Như vậy, chắc hẳn đủ kín để bịt mồm mấy kẻ lải nhải rằng nền kinh tế Việt Nam hiện nay tụt lùi so với trước.
Không chỉ kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển mà chính trị - xã hội cũng ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hoá - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi, đẩy lùi được đói nghèo, lạc hậu. Việt Nam đã hoàn thành hầu hết và cơ bản các chỉ tiêu Thiên niên kỷ. Đặc biệt là đã thực hiện tốt chỉ tiêu giảm nghèo, riêng trong giai đoạn 2011 - 2015 Việt Nam đã giành tới 364.000 tỷ đồng để xóa đói, giảm nghèo; nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58,1% năm 1993 xuống còn gần 6% năm 2014 và dự kiến dưới 5% vào năm 2015. Việt Nam không chỉ biểu tượng của “chủ nghĩa Anh hùng cách mạng” mà còn là tấm gương “xóa đói, giảm nghèo”, là điểm sáng thu hút bạn bè đến đầu tư, thăm quan, du lịch.
Cùng với đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng (Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân). Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Trên bình diện quốc tế Việt Nam Nam tham gia ngày càng mạnh mẽ vào đời sống chính trị thế giới. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 nước và vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ đối tác Chiến lược và đối tác Toàn diện với 13 nước. Việt Nam, là: thành thành viên chính thức của WTO; Ủy viên Hội đồng Nhân quyền tại Đại hội đồng Liên hợp quốc (khóa 68); Tổng Thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013-2017; Chủ tịch Đại hội đồng Liên minh Nghị viện IPU-132,… và là một thành viên có trách nhiệm cao trong giải quyết các vấn đề đặt ra.
Những thành tựu trên khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Đó là sự thật, không một ai, một thế lực nào có thể phủ nhận!
Tuy nhiên, bên cạnh đó những biểu hiện của bốn nguy cơ mà Đảng ta đã xác định vẫn luôn hiện hữu, nhất là: tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nạn tham nhũng và tệ quan niêu; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có xu hướng diễn biến phức tạp trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Thiết nghĩ, đó cũng là lẽ tự nhiên của quá trình vận động phát triển mà bất cứ một quốc gia, thể chế chính trị nào cũng gặp phải, không riêng gì ở Việt Nam. Việc khắc phục những biểu hiện trên không hề đơn giản, nó thực sự là cuộc đấu tranh phức tạp; đòi hỏi phải kiên quyết, kiên trì, lâu dài. Gần đây việc Chủ tịch Hội đồng Liên hợp quốc (khóa 68) Rôn-hát tham nhũng 1,8 triệu USD là một minh chứng sinh động nhất cho vấn nạn này, v.v. Vấn đề quan trọng là: phải thẳng thật, dũng cảm nhìn thẳng vào thực tiễn để đánh giá đúng sự thật, nhất là những khuyết tật, những yếu kém. Từ đó, đề ra đường lối, hoạch định chính sách và triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp khắc phục thì mới tồn tại, phát triển. Xin mạn phép hỏi các nhà “dân chủ” giả dạng: có ai nắm tay từ tối đến sáng không? Trong đời liệu có ai không vấp ngã và không có những sai lầm, khuyết điểm không? Chắc là không có phải không thưa những nhà “dân chủ”?
Thế thì, việc Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật”, công khai thừa nhận những khuyết điểm, cũng như cảnh báo những nguy cơ cực kỳ nguy hiểm đang hằng ngày tác động trực tiếp đến quá trình lãnh đạo của mình để có các giải pháp đấu tranh, khắc phục là việc làm hết sức bình thường, là lẽ tự nhiên hợp quy luật; tất cả vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bởi, nếu không tự nhìn nhận đánh giá đúng khuyết điểm thì sẽ không biết khắc phục từ đâu, biết đổi mới cái gì? Điều đó tất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Sự sụp đổ, tan rã của Đảng Cộng sản ở Liên - Xô và các nước Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ trước là một bài học vô cùng đắt giá đã chứng minh điều đó. Hẳn nhiên, các thế lực thù địch đang muốn tái diễn kịch bản đó ở Việt Nam? Vì thế, họ dùng trăm phương nghìn kế với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc để chống phá cách mạng Việt Nam là điều không có gì lạ.
Điều đáng bàn là sự ngô nghê, giả mù, giả điếc của các nhà “dân chủ” không xuất phát từ cái tâm trong sáng mà là từ dụng ý xấu, luôn soi mói nhìn xã hội chỉ một màu xám, để rồi dùng chiêu thổi phồng những hạn chế, khuyết tật vốn tồn tại và sống “tầm gửi” giống như họ bên cạnh sự phát triển của bất cứ xã hội, thể chế chính trị nào cũng có, cũng phải đương đầu giải quyết. Nực cười hơn, khi họ cố suy diễn từ những biểu hiện, hiện tượng bên ngoài của sự việc, như: từ những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Đảng ta đã nêu, họ cho rằng đó là bản chất, từ đó quy đồng cộng lại theo kiểu toán học của các cháu lớp một, lớp hai,... thành nguy cơ rồi hàm hồ đưa ra những luận điệu sai trái để phát tán nhằm gây nhiễu loạn xã hội, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thật là sự suy diễn hết sức lố bịch của những nhà mang danh “dân chủ” - đồ “ếch ngồi đáy giếng” đòi luận anh hùng!

Oct 24, 2015

Chỉ xằng bậy

TRE VIỆT - Trên trang Dân làm báo vừa có bài viết xằng bậy Nói với Dư luận viên, đảng viên mù đảng, cuồng Hồ” của Lê Nguyên. 
Mở đầu bài viết đã thấy sặc mùi xằng bậy, khiến người dù có kiên trì cũng khó mà đọc hết bài viết này, dù nó không dài. Lê Nguyên viết rằng: “Sự thật đã rõ, Hồ Chí Minh vì tiền, lãnh tiền cộng sản quốc tế để làm cái việc mà tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản gọi là “hoạt động cách mạng” (!)Lê Nguyên vu khống Hồ Chí Minh “vì tiền” một cách trơ chẽn đến thế là cùng. Cả dân tộc ta, cả thế giới đều rõ Hồ Chí Minh “cả cuộc đời vì nước, vì non”. Người hy sinh hạnh phúc riêng để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng. Cuộc đời của Hồ Chí Minh luôn với bộ quần áo ka ky bạc màu, đôi dép cao su, chiếc xe ô tô cũ kỹ,… Ngày nay, những ai vào thăm nơi ở và làm việc của Người đều rất xúc động trước sự giản dị của vị Chủ tịch nước với ngôi nhà sàn nhỏ nhắn, đồ dùng rất đỗi bình dị. Những đồ dùng giản dị đó “mà biết nói năng thì hàm răng của Lê Nguyên cũng chung số phận như hàm răng của thầy địa lý trước kia vậy.
Lê Nguyên hậm hực khi Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, nhưng hắn ta cũng buộc phải trích blogger Kami, và đây là những gì mà Lê Nguyên thừa nhận. Hắn ta viết: “blogger Kami một “bỉnh bút” quen thuộc với một số trang báo lề dân (lề trái), có văn phong khá mạnh bạo phê phán Đảng, chế độ cộng sản với lý lẽ khá thuyết phục”, nhưng Kami cũng phải thừa nhận: “...Việc ông Hồ Chí Minh lựa chọn cho mình con đường cộng sản và mang nó về áp đặt cho nền chính trị Việt Nam trong thế kỷ XX để tiến hành một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đã giành được độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp, phát xít Nhật là điều không thể chối bỏ. Nếu nói đây là sự lựa chọn sai lầm thì đó là sự phủ nhận lịch sử và là điều không đúng đắn Vào thời điểm đó thì ông Hồ Chí Minh không còn các lựa chọn nào khác, một khi chủ thuyết ấy đang là trào lưu. Sự thất bại của các ông Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong giai đoạn đó là những bằng chứng...”. Như vậy, chính blogger Kami - blogger không có thiện cảm với chế độ cộng sản - cũng phải công nhận sự đúng đắn trong lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh mà Lê Nguyên đã phải trích dẫn. Đó lại thêm cái vả nữa dành cho Lê Nguyên. Phen này, chắc chắn Lê Nguyên “lợi thì có lợi nhưng răng không còn” rồi!