Apr 3, 2025

Cảnh giác với những lời kêu gọi thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam

 Kêu gọi Việt Nam thay đổi thể chế chính trị hiện nay là một thủ đoạn rất thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm kích động tư tưởng đòi thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng lái đất nước đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Đó là những lời kêu gọi rất nguy hiểm, cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Thủ đoạn này không mới, nhưng lại được các thế lực thù địch “hâm nóng” khi Nhà nước ta có những thay đổi nhân sự lãnh đạo ở cấp cao nhất và Đảng ta đang bước vào thời gian tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Để thực hiện thủ đoạn này, các thế lực thù địch thường tung ra rất nhiều luận điệu xuyên tạc về thể chế chính trị ở nước ta gắn với sự độc tôn lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đơn cử, họ cho rằng: “Thể chế chính trị với một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo thì không có dân chủ, cản trở sự phát triển của đất nước và là nguyên nhân của tham nhũng”, hay “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị” (!). Từ đó, họ kêu gọi: “Cần loại bỏ sự toàn trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng” (!). Gần đây, lợi dụng phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV, ngày 21/10/2024: “Trong ba điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, các thế lực thù địch xuyên tạc và kêu gọi “đã đến lúc phải xóa bỏ điểm nghẽn của điểm nghẽn đó” (!). Trắng trợn hơn, ngày 25/10/2024, tổ chức khủng bố Việt Tân đăng trên trang facebook của mình rằng: “Điểm nghẽn sự phát triển của Việt Nam là Điều 4 Hiến pháp (Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam)”, do vậy “Chỉ cần quất một phát cho Điều 4 Hiến pháp đi chỗ khác chơi là giải quyết được mọi vấn đề của đất nước” (!), v.v. Mục tiêu của tất cả những luận điệu xuyên tạc, sai trái nói trên đều hướng tới cổ vũ cho lời kêu gọi chuyển đổi thể chế chính trị hiện hành sang thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Những luận điệu đó thật thâm độc, hoàn toàn sai trái, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Trước hết, quan điểm một đảng cầm quyền chỉ dẫn đến độc tài, mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là hoàn toàn không có cơ sở khoa họcTrên phương diện lý luận, dân chủ và phát triển không phụ thuộc vào thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, hay do một đảng cầm quyền - lãnh đạo xã hội. Nói cách khác, một quốc gia thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng không hẳn là có dân chủ, không dẫn tới độc tài; ngược lại, một nước chỉ duy nhất có một đảng lãnh đạo - cầm quyền, cũng không có nghĩa rằng đó là chế độ độc tài, mất dân chủ. Do vậy, không phải cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có dân chủ và không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ. Bởi, bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Theo đó, một đất nước có thể chế dù là nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay nhiều đảng, nhưng nếu chính đảng cầm quyền và nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân thì xã hội đó có dân chủ thực sự. Mặt khác, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, về hình thức là dựa trên chế độ đa đảng, nhưng về bản chất vẫn dựa trên sự nhất nguyên chính trị; nghĩa là vẫn dựa trên chế độ một đảng - đảng tư sản. Đảng tư sản nào cầm quyền cũng là kết quả sự phân chia quyền lực giữa các phe phái của giai cấp tư sản, đại diện và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản là chủ yếu.

Trên phương diện thực tiễn, có thể thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới theo chế độ đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, chính trị không ổn định, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển, điển hình như nhiều nước ở châu Phi. Trong khi đó, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng chính trị ổn định, dân chủ được phát huy, kinh tế - xã hội vẫn phát triển, đời sống nhân dân được đảm bảo và ngày càng cải thiện, như ở Trung Quốc và Việt Nam hiện nay. Lịch sử thế giới trong thế kỷ XX cũng cho thấy, trong những giai đoạn lịch sử nhất định, chính thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng lại gắn liền với các chế độ độc tài, hạn chế dân chủ như chế độ độc tài của Hitle ở nước Đức quốc xã, Mussolini ở nước Ý phát xít, Park Chung-hee ở Hàn Quốc, Pinochet ở Chile, Suharto ở Indonesia, v.v. Mặt khác, lịch sử cũng ghi nhận thời kỳ Tổng thống Park Chung-hee cầm quyền (1961 - 1979), duy trì chế độ độc tài, nhưng kinh tế Hàn Quốc vẫn có sự phát triển thần kỳ; từ một quốc gia đói nghèo với thu nhập bình quân đầu người năm 1961 chỉ 94 USD/năm đã tăng lên đến 1.784 USD/năm vào năm 1979, trở thành “con Rồng châu Á”. Điều đó cho thấy luận điểm “chế độ đa đảng thì có dân chủ và phát triển, còn một đảng thì mất dân chủ và cản trở sự phát triển” không thể đứng vững. Việc duy trì chế độ một đảng lãnh đạo - cầm quyền, hay đa đảng phụ thuộc vào những điều kiện chính trị, lịch sử, xã hội, văn hóa, tôn giáo,… cụ thể của mỗi dân tộc; và mỗi quốc gia, dân tộc lựa chọn thể chế chính trị nào, đa đảng hay một đảng là quyền tự quyết của quốc gia, dân tộc đó. Điều này hoàn toàn phù hợp với Điều 1 của cả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà Liên hợp quốc đã thông qua.

Thứ hai, coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ một đảng cầm quyền cũng là luận điểm hoàn toàn sai trái. Bởi lẽ, về mặt lý luận, tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra; có nhà nước là có tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó tổ chức theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Mặt khác, nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, thì tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Do đó, chế độ một đảng lãnh đạo - cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng. Về mặt thực tiễn, ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn tồn tại; thậm chí một số nguyên thủ quốc gia (như ở: Tunisia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia, Pakixtan, Brazil,…) cũng dính vào tội tham nhũng. Chẳng thế mà hằng năm, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) trong khu vực công, để cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ tham nhũng tương đối của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu là các quốc gia đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng. Nhìn vào bảng xếp hạng CPI năm 2023 (công bố ngày 30/01/2024) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt lần lượt là 90, 87, 85 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là: Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm, đều là các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Bảng xếp hạng còn cho biết trong giai đoạn 2012 - 2023, có 34 quốc gia đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, nghĩa là tham nhũng ở những nước này có xu hướng gia tăng, trong đó có Thụy Điển, Vương quốc Anh - những nước theo chế độ đa đảng. Điều đó chứng tỏ luận điểm “chế độ một đảng là nguyên nhân tham nhũng” chỉ là sự xuyên tạc, bịa đặt, không có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc.

Ở nước ta, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, sự lãnh đạo độc tôn của Đảng luôn là nhân tố đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là sự lựa chọn khách quan, khắt khe của lịch sử trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng đất nước trong hòa bình. Do vậy, nói “Chế độ độc đảng là nguyên nhân tham nhũng, cản trở dân chủ và phát triển” là sự xuyên tạc, bịa đặt, coi thường tính khách quan của lịch sử. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động, của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không một lực lượng chính trị nào ở Việt Nam có thể đưa ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn để tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Lịch sử đã ghi nhận rằng, trong mấy chục năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân ta đã liên tục vùng lên dưới ngọn cờ lãnh đạo của các giai cấp: phong kiến, tiểu tư sản và tư sản dân tộc để đấu tranh chống thực dân Pháp, nhằm giành lại độc lập cho dân tộc, nhưng không có lấy một thành công. Bởi, các ngọn cờ đó không phù hợp với xu thế của thời đại, không đưa ra được đường lối đúng đắn cho phép giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam, không thỏa mãn được lợi ích và nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc, nên không tập hợp được sức mạnh của cả dân tộc. Chính sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, với vai trò kiệt xuất của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước của dân tộc ta lúc đó; đánh dấu sự kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945; tiếp đó là giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục độc tôn lãnh đạo nhân dân cả nước đánh bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam là người khởi xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới gần 40 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 trong 200 quốc gia trên toàn thế giới; xây dựng được các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực1. Hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009 và 2020 - 2021); hai lần đảm trách nhiệm vụ thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025); từ năm 2014, bắt đầu tham gia vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc là minh chứng vững chắc khẳng định vị thế và uy tín quốc tế của Việt  Nam trên trường quốc tế. Trên lĩnh vực kinh tế, nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới từ năm 2007; đến nay đã có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những thành tựu to lớn. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, nay chúng ta đã đứng vào nhóm nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu lương thực2 và nhiều mặt hàng khác. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2024 đạt 476,3 tỉ USD, đứng thứ 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài3. Nhờ đó, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2024 đạt 4.700 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 1,93% năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng; quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được thực hiện ngày càng hiệu quả. Quy chế Dân chủ cơ sở được tổ chức thực hiện rộng rãi, ngày càng chặt chẽ theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, tăng cường sự đoàn kết dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, tạo nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nói trên luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là minh chứng sinh động bác bỏ sự xuyên tạc về thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay. Xin nhấn mạnh rằng, trong cam kết của tất cả các nước khi đặt quan hệ, hoặc nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam, kể cả Hoa Kỳ gần đây, đều khẳng định sự “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam”4. Vì vậy, kêu gọi Việt Nam thay đổi thể chế chính trị của các thế lực thù địch chỉ là tiếng nói lạc lõng, nhưng cần cảnh giác.

NGUYỄN NGỌC HỒI
_______________
        

1 - Tính đến tháng 11/2024, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược và toàn diện với 32 quốc gia; trong đó, có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 09 quốc gia là: Trung Quốc (5/2008), Liên bang Nga (7/2012), Ấn Độ (9/2016), Hàn Quốc (12/2022), Mỹ (9/2023), Nhật Bản (11/2023), Australia (3/2024), Pháp (10/2024) và Malaysia (11/2024). Đối với Lào và Campuchia là quan hệ đặc biệt.

2 - Năm 2024, xuất khẩu gạo đạt 09 triệu tấn.

3 - Năm 2024, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 786,29 tỉ USD; Việt Nam nằm trong 15 nước đang phát triển thu hút vốn FDI lớn nhất thế giới.

4 - Phát biểu của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 - 11/9/2023.

Kỷ nguyên vươn mình không phải bánh vẽ

            Nguyễn Văn Lợi, một kẻ ẩn danh dưới bút danh trên mạng xã hội, đã tung ra bài viết mang tên “Kỷ nguyên vươn mình chỉ là ‘bánh vẽ’?”, chứa đựng những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Tô Lâm về “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Y trắng trợn cho rằng khái niệm này chỉ là “khẩu hiệu”, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, đồng thời rêu rao rằng Việt Nam muốn vươn lên thì phải xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, thực hiện tam quyền phân lập và dân chủ đa nguyên. Những lời lẽ bẩn thỉu này không chỉ phơi bày dã tâm chống phá của Nguyễn Văn Lợi mà còn nhằm kích động, gây nghi ngờ trong nhân dân, phủ nhận những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được sau 40 năm đổi mới. Trước luận điệu độc hại này, cần đấu tranh mạnh mẽ, vạch trần sự thật và khẳng định tính đúng đắn, khoa học của “kỷ nguyên vươn mình” mà Đảng và nhân dân Việt Nam đang hướng tới.

Tổng bí thư Tô Lâm trao đổi chuyên đề về
"Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình
của dân tộc Việt Nam - Ảnh: TTXVN

Nguyễn Văn Lợi mở đầu bằng việc xuyên tạc rằng “trong suốt 80 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại dựa trên sự tiếm quyền, không phải sự lựa chọn của nhân dân”. Đây là một sự bóp méo lịch sử trắng trợn, đi ngược lại thực tế mà cả dân tộc Việt Nam và cộng đồng quốc tế đã chứng kiến. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa nghèo nàn trở thành quốc gia độc lập, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Hơn 94 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và tin tưởng con đường xã hội chủ nghĩa, điều được ghi nhận rõ ràng trong Điều 4 Hiến pháp 2013: Đảng là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát và trách nhiệm trước nhân dân. Vai trò này không phải “tiếm quyền” như Nguyễn Văn Lợi vu khống, mà là sự giao phó thiêng liêng của lịch sử và ý chí của toàn dân. Thực tế, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc: kinh tế tăng trưởng gấp 96 lần từ năm 1986 đến 2023, thuộc top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với các cường quốc. Những con số này không phải là “bánh vẽ” mà là minh chứng sống động cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự đồng lòng của nhân dân, điều mà Nguyễn Văn Lợi cố tình lờ đi để phục vụ mưu đồ chống phá.

“Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” mà Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập trong Hội nghị Trung ương lần thứ 10 không phải là khẩu hiệu suông hay sản phẩm của sự tưởng tượng, mà là tầm nhìn chiến lược dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Kỷ nguyên, theo khái niệm lịch sử, là giai đoạn phát triển đặc biệt, đánh dấu những bước chuyển mình vượt bậc của một quốc gia. Với Việt Nam, kỷ nguyên vươn mình là thời kỳ mà đất nước hội tụ đủ điều kiện để bứt phá, dựa trên thế và lực tích lũy sau 40 năm đổi mới, kết hợp với thời cơ từ bối cảnh quốc tế. Về mặt khách quan, thế giới đang chứng kiến xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, dù vẫn còn xung đột. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật đang mở ra cơ hội chưa từng có cho các quốc gia biết tận dụng khoa học - công nghệ để phát triển. Việt Nam, với vị thế ngày càng cao, đang tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút đầu tư và ứng dụng công nghệ hiện đại, tạo nền tảng để vươn lên trong trật tự thế giới mới. Về mặt chủ quan, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã xây dựng được nội lực mạnh mẽ: kinh tế phát triển vượt bậc, chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng, xã hội ngày càng công bằng, an ninh - quốc phòng được củng cố, và quan hệ quốc tế mở rộng. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh rằng, với nguồn lực nội sinh, con người làm nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm đột phá, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để bước vào kỷ nguyên mới. Đây không phải là “bánh vẽ” như Nguyễn Văn Lợi xuyên tạc, mà là định hướng chiến lược được đúc kết từ thực tiễn, phản ánh khát vọng của toàn dân tộc.

Nguyễn Văn Lợi còn rêu rao rằng “kỷ nguyên vươn mình” chỉ là chiêu bài tuyên truyền, thiếu thực tế, và Việt Nam muốn phát triển thì phải xóa Điều 4 Hiến pháp, thực hiện tam quyền phân lập và đa nguyên đa đảng. Đây là luận điệu quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và đẩy Việt Nam vào con đường lệ thuộc phương Tây. Thực tế, mô hình nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 2013 là “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia tam quyền mà phân công, phối hợp giữa các cơ quan dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chính mô hình này đã giúp Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế và bảo vệ độc lập, chủ quyền trong suốt gần một thế kỷ qua. Việc đòi xóa Điều 4 Hiến pháp không chỉ là âm mưu xóa bỏ vai trò của Đảng mà còn muốn phá vỡ sự ổn định, đoàn kết của dân tộc - điều mà lịch sử đã chứng minh là yếu tố sống còn để Việt Nam vượt qua mọi thử thách. Nhìn ra thế giới, những quốc gia bị lôi kéo vào đa nguyên, đa đảng dưới chiêu bài “dân chủ” của phương Tây như Iraq, Libya đã rơi vào hỗn loạn, chiến tranh, người dân chịu cảnh lầm than. Việt Nam, với con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp lịch sử và văn hóa dân tộc, không cần và không bao giờ chạy theo mô hình xa lạ mà Nguyễn Văn Lợi ra sức cổ súy.

Hơn nữa, luận điệu của Nguyễn Văn Lợi còn kích động “dân tộc Việt Nam cần đứng lên tranh đấu” vì một “Việt Nam tự do, dân chủ, giàu mạnh”. Đây là chiêu bài bẩn thỉu nhằm kêu gọi bạo loạn, lật đổ chế độ, nhưng chỉ là tiếng kêu tuyệt vọng của một kẻ lạc lõng trước dòng chảy lịch sử. Thực tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã và đang thực hiện khát vọng “giàu mạnh” bằng những bước đi cụ thể: từ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đến ứng dụng khoa học – công nghệ để hiện đại hóa đất nước. Tự do và dân chủ không phải là thứ mà Nguyễn Văn Lợi và các thế lực thù địch có thể ban phát, bởi nhân dân Việt Nam đã giành được tự do qua máu xương của hàng triệu anh hùng liệt sĩ, và đang thực hành dân chủ thực chất qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Những thành tựu như đưa GDP bình quân đầu người từ vài trăm USD năm 1986 lên hơn 4.000 USD hiện nay, hay vị thế quốc tế ngày càng cao, là bằng chứng rõ ràng rằng Việt Nam không cần “tranh đấu” theo kiểu kích động của Nguyễn Văn Lợi, mà đang vươn lên bằng nội lực và sự đồng lòng của toàn dân.

Tóm lại, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” không phải là “bánh vẽ” như Nguyễn Văn Lợi xuyên tạc, mà là tầm nhìn chiến lược, có cơ sở khoa học và thực tiễn, phản ánh khát vọng của cả dân tộc. Những luận điệu của y chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng và ác ý, không thể làm lung lay niềm tin của nhân dân vào Đảng và con đường phát triển của đất nước. Việt Nam, với thế và lực hiện có, đang vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, bất chấp mọi chiêu trò bôi nhọ của các thế lực thù địch. Nhân dân cần cảnh giác trước những kẻ như Nguyễn Văn Lợi, nhận diện rõ dã tâm chống phá và tiếp tục ủng hộ Đảng trong hành trình đưa đất nước vươn xa trên trường quốc tế.

(nguồn: nhanquyen.vn)

 

Mar 27, 2025

Đừng nhầm lẫn giữa lòng nhân đạo và sự tôn trọng

     


       T
ổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại hội nghị, nói về những kẻ thuộc “Viet Nam Cong Hoa \|/ tức là Tổ chức cầm quyền Sài Gòn trước năm 1975” đang tị nạn tại Mỹ như sau: các anh là những kẻ phản bội chính Tổ quốc của mình. Một khi đã phản bội đất nước với Tổ quốc thì chắc chắn các anh mãi mãi là kẻ không bao giờ đáng tin. Làm sao chúng tôi có thể đặt niềm tin vào những kẻ đã quay lưng vào đồng bào mình trong giờ phút quan trọng nhất. Các anh là những kẻ không chỉ phản bội Tổ quốc, mà còn phản bội các giá trị căn bản nhất của con người. Người Cộng sản chiến đấu đến cùng, hy sinh tất cả vì đất nước, vì lòng yêu nước. Còn các anh bỏ chạy, cúi đầu và biến mình thành những kẻ sống nhờ vào lòng thương hại. Người Cộng sản Họ là những chiến binh, còn các anh chỉ là những kẻ hèn nhát. Những kẻ từng bán rẻ Tổ quốc , phản bội dân tộc mình, thì ở đâu cũng chỉ là những kẻ cơ hội! Các anh chỉ là những con tốt thí không giá trị trong bàn cờ chính trị. Chúng tôi không cần và không thể tin tưởng những kẻ như vậy. Sự có mặt của các anh tại Mỹ không phải vì cống hiến hay đóng góp mà chỉ là kết quả của chính sách nhân đạo của chúng tôi. Các anh có mặt ở đây không phải vì các anh xứng đáng, mà bởi vì đất nước chúng tôi đủ bao dung để chứa chấp những kẻ bị Tổ Quốc ruồng bỏ !!! NHƯNG ĐỪNG NHẦM LẪN GIỮA LÒNG NHÂN ĐẠO và SỰ TÔN TRỌNG ! SỰ TÔN TRỌNG CỦA CHÚNG TÔI CHẮC CHẮN CÁC ANH KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC !!! Donald Trump

Mar 25, 2025

Việt Nam thăng hạng hạnh phúc - Sự thật không thể xuyên tạc

           Tre Việt - Ngày 24/3, trong bài viết “Chuyện hài xứ “thiên đường”: Việt Nam tăng 8 hạng trong Báo cáo hạnh phúc” đăng trên trang fanfage Việt Tân, Hạnh Nhân xuyên tạc, rằng: “không phản ánh đúng thực tế… hạnh phúc thì ngẫm thôi cũng quá xa vời”!

Như đã biết, trong Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 công bố ngày 19/3/2025 của Liên Hợp quốc, Việt Nam đã ghi dấu ấn mạnh mẽ khi vươn từ vị trí 54 (năm 2024) lên vị trí 46 (năm 2025) trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng. Sự phát triển kinh tế, xã hội và tinh thần của người dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu, đã tạo nên một bức tranh xã hội đầy sức sống, thành quả này không chỉ thể hiện sự ổn định mà còn khẳng định Việt Nam đang tiến bộ vượt bậc, được thế giới công nhận qua những chỉ số khách quan. Đây không chỉ là một bước tiến đáng tự hào mà còn là minh chứng sống động đập tan những luận điệu xuyên tạc, bôi đen của Hạnh Nhân và các thế lực thù địch.

Báo cáo Hạnh phúc thế giới hằng năm do Viện Gallup, Trung tâm Nghiên cứu hạnh phúc Oxford và Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên Hợp quốc thực hiện, đánh giá dựa trên 06 tiêu chí, gồm: thu nhập bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ khỏe mạnh, lòng hào phóng, tự do cá nhân và nhận thức về tham nhũng. Việt Nam đã chứng minh được sự tiến bộ trên từng khía cạnh, phản ánh vai trò lãnh đạo hiệu quả của Đảng và Nhà nước. Sự thăng hạng của Việt Nam trong Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 không phải là kết quả ngẫu nhiên mà là thành quả của những nỗ lực bền bỉ, đồng bộ của hệ thống chính trị Việt Nam trong suốt những năm qua.

Về kinh tế, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2024, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt hơn 4.300 USD, tăng gấp hơn 40 lần so với năm 1990. Dù chưa phải là con số cao nhất trong khu vực, mức sống thực tế của người dân vượt xa con số thống kê nhờ giá cả sinh hoạt thấp và chính sách hỗ trợ phát triển đồng đều.

Về hỗ trợ xã hội, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam đã được xây dựng đồng bộ qua gần 40 năm đổi mới. Thành tựu nổi bật của Việt Nam trong bảo đảm an sinh xã hội được thế giới thừa nhận, đánh giá cao là công tác xóa đói, giảm nghèo về đích trước thời hạn theo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và Phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ gần 60% (năm 1986) xuống còn 1,93% (năm 2024), trở thành một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Các chính sách bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ người có công và cứu trợ thiên tai kịp thời đã tạo nên một mạng lưới an toàn cho người dân. Chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện rộng hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng; đã bao phủ các nhóm đối tượng, bảo đảm người dân được hỗ trợ kịp thời khi gặp rủi ro, thiên tai, dịch bệnh. Năm 2023, đã có 100% số đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hằng tháng, 100% số người dân bị thiệt hại do thiên tai được trợ giúp kịp thời, 99% số hộ Người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú, hơn 90% số người khuyết tật khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng và hơn 90% số người cao tuổi khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc. Hằng năm, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân thiếu lương thực hàng chục nghìn tấn gạo. Gần đây nhất, trước hậu quả nặng nề của cơn bão Yagi gây ra, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo với tinh thần bảo vệ tính mạng, an toàn, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết; không để người bệnh thiếu nơi cứu chữa; các cháu học sinh phải được đến trường sớm nhất có thể; bảo đảm an sinh xã hội, không để người dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu chỗ ở, thiếu nước sạch; sớm khôi phục các hoạt động đời sống, xã hội để ổn định cuộc sống nhân dân. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định trích dự phòng ngân sách Trung ương 430 tỉ đồng và xuất cấp từ dự trữ quốc gia 432.585 tấn gạo để các địa phương, cơ quan thực hiện chính sách hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại và cứu trợ cho người dân có nguy cơ thiếu đói. Và, mới đây, Đảng, Nhà nước đã quyết định chính sách miễn học phí từ mầm non đến trung học phổ thông công lập, bắt đầu từ năm học 2025 - 2026 là một bước đi đột phá nhằm đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho mọi trẻ em. Điều này không chỉ thể hiện tinh thần đoàn kết mà còn khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo phúc lợi, một yếu tố quan trọng trong tiêu chí “hỗ trợ xã hội” của Báo cáo Hạnh phúc thế giới.

Về chống tham nhũng, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ với chiến dịch “đốt lò” do Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng. Từ năm 2016 đến nay, hàng nghìn cán bộ, bao gồm cả những cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật hoặc truy tố vì các hành vi tham nhũng; riêng năm 2023, hơn 2.500 vụ án tham nhũng đã được xử lý, thu hồi hàng chục nghìn tỉ đồng cho ngân sách. Cuộc chiến này không chỉ làm trong sạch bộ máy mà còn củng cố niềm tin của người dân, góp phần nâng cao chỉ số “nhận thức về tham nhũng” trong đánh giá hạnh phúc.

Về tự do cá nhân và lòng hào phóng, Việt Nam ghi điểm nhờ sự ổn định chính trị và văn hóa cộng đồng sâu sắc. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận được đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật, với hơn 95% dân số có quyền tiếp cận thông tin qua internet. Đồng thời, tinh thần “lá lành đùm lá rách” của người Việt được thể hiện qua các hoạt động thiện nguyện, như quỹ “Vì người nghèo” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quyên góp hơn 1.500 tỉ đồng mỗi năm để hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn, v.v.

Việc Việt Nam tăng 08 bậc trong bảng xếp hạng hạnh phúc từ vị trí 54 lên vị trí 46 trong năm 2025 và đứng thứ hai Đông Nam Á chỉ sau Singapore, khẳng định thực tế sự phát triển vượt bậc của đất nước. Thực tế đó cũng chính là minh chứng sinh động, đầy thuyết phục; tự nó bác bỏ sự xuyên tạc của Hạnh Nhân và đồng bọn về chỉ số hạnh phúc ở Việt Nam./.


 

Mar 24, 2025

Họ lại diễn trò “chọc gậy bách xe”

         Tre Việt - Nhằm phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế, trong đó có quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, các thế lực thù địch, phản động không từ một thủ đoạn nào. Chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội để tung ra các luận điệu vô căn cứ, như: quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ không thể phát triển nếu Việt Nam không cải thiện tình hình nhân quyền và không xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; hoặc thậm chí kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, v.v. Đặc biệt, gần đây, trước việc chính quyền mới ở Hoa Kỳ quyết định tạm dừng các dự án hỗ trợ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), bao gồm các dự án hỗ trợ của USAID liên quan tới khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng một số địa phương đã bày tỏ mong muốn và đề nghị cùng Hoa Kỳ tiếp tục triển khai thực chất, hiệu quả các hoạt động hợp tác này. Ngay lập tức, một số tổ chức, cá nhân phản động lại lợi dụng vấn đề này để “chọc ngoáy” nhằm khiến dư luận hiểu sai về thực trạng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, điển hình là tổ chức phản động Việt Tân: chúng rêu rao trên Facebook rằng Việt Nam “mặt dày” đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục tài trợ tiền bạc; và rằng công việc rà phá bom, mìn vốn là việc của Việt Nam, chứ chẳng nước nào có trách nhiệm làm giúp.

Cần khẳng định rằng, việc phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của thời đại và đường lối đối ngoại: độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy,... được Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đề ra.

Thực tiễn thời gian qua minh chứng: trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc, lãnh đạo nước ta đã nhiều lần khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực cũng như thế giới. Và, tương tự, quan điểm của lãnh đạo cấp cao Hoa Kỳ cũng là mong muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và cam kết ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”. Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện (tháng 9/2023) đã mở ra cơ hội để tiếp tục phát triển quan hệ hai nước trong các lĩnh vực. Theo đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn đặt thêm các cơ sở làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam. Điều này cho thấy: nếu như mối bang giao giữa hai nước không phát triển tốt đẹp thì chắc chắn các doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không sẵn lòng đầu tư tiền của vào các dự án ở Việt Nam.

Riêng đối với những vấn đề còn tồn tại sự khác biệt về quan điểm, chẳng hạn như “nhân quyền”, những năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi thẳng thắn thông qua các cơ chế đối thoại liên quan nhằm “giảm thiểu khác biệt”, dựa trên tinh thần xây dựng và những nguyên tắc được coi là nền tảng trong quan hệ song phương, đó là: tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Một minh chứng không thể xuyên tạc: việc khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn là lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong nhiều năm qua. Điều này được thể hiện thông qua các hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA); tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tin, mất tích; xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật ở Việt Nam. Những hoạt động hiệu quả này đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cả chính giới lẫn người dân hai nước, góp phần chữa lành vết thương chiến tranh trong quá khứ và thúc đẩy hòa giải, mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác. Mới đây, 17 cựu Đại sứ Hoa Kỳ từng công tác tại Việt Nam, Lào và Campuchia đã cùng ký vào một bức thư ngỏ gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong đó đề nghị chính quyền của Tổng thống Donald Trump nối lại viện trợ cho các chương trình rà phá bom, mìn và vật liệu chưa nổ tại ba quốc gia này. Các cựu Đại sứ Hoa Kỳ cũng khẳng định các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh mang lại lợi ích cho chính an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, bởi nó giảm nguy cơ phổ biến vật liệu nổ cho những kẻ xấu tiềm tàng có thể tái sử dụng vì mục đích bất chính, dẫn đến bạo lực hoặc bất ổn. Và, nếu không được dọn sạch, bom, mìn và vật liệu chưa nổ còn đe dọa đến tính mạng của nhân viên Hoa Kỳ trong khu vực, nhà thầu và nhân viên cứu trợ.

Một điều hiển nhiên cả thế giới đều biết: chính quyền Hoa Kỳ chỉ mới “tạm dừng” các dự án viện trợ nước ngoài và đang trong quá trình đánh giá lại hiệu quả của mỗi dự án, chứ không phải dừng hẳn. Đây là chính sách được áp dụng trên phạm vi toàn cầu, với mọi dự án liên quan ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Việc các thế lực phản động lợi dụng vấn đề này để bày trò “chọc gậy bánh xe” nhằm phá hoại mối quan hệ đang phát triển giữa Việt Nam - Hoa Kỳ. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, nhận diện, đấu tranh bác bỏ./.

Mar 18, 2025

Xuất khẩu lao động là “ích nước, lợi dân”

           Tre Việt - Ngày 16/3, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng status: “Việt Nam đang ở trong thời kỳ dân số vàng, là cơ hội lớn để phát triển kinh tế thần tốc như Nhật, Hàn, Đài…  Nhưng các quan chức Cộng sản Việt Nam thì lại tận dụng thời kỳ này để đưa thanh niên đi xuất khẩu lao động”, nhằm kích động, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đưa người đi lao động ở nước ngoài.

          Cần khẳng định: chủ trương đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là hoạt động mang lại lợi ích cho chính người lao động, cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Dân số Việt Nam hiện đang ở trong giai đoạn dân số vàng, đây là cơ hội để chúng ta tận dụng lợi thế, đề ra các chính sách về phát triển nguồn nhân lực để tăng trưởng kinh tế. Người Việt Nam với đặc tính là cần cù, thông minh và năng động, do đó, xuất khẩu lao động như một cánh cửa mở ra cơ hội cho người lao động bước ra thế giới, tiếp cận và hoàn thiện kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế và quan trọng hơn hết, là tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Từ năm 2021 đến năm 2024, gần 500.000 lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc; trong đó, chỉ riêng trong năm 2024, đã có khoảng 150.000 lao động ra nước ngoài làm việc, đạt 120% kế hoạch, cho thấy nhu cầu việc làm lớn và hiệu quả của chính sách. Hiện nay, Việt Nam đang có khoảng gần 700.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam, như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc,… thường xuyên đánh giá cao tính cần cù và kỹ năng của người Việt, điều đó đã giúp mở rộng cơ hội hợp tác lao động. Nhờ làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam có nhiều cơ hội tìm kiếm nguồn thu nhập tốt, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của hàng trăm nghìn gia đình. Hằng năm, lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về khoảng 3,5 - 4 tỉ USD, đóng góp nguồn kiều hối lớn cho đất nước, góp phần tăng nguồn ngoại tệ, hỗ trợ cán cân thanh toán quốc gia, và cải thiện kinh tế đất nước. Đây là nguồn lực quan trọng giúp giảm nợ nước ngoài, tăng cường dự trữ ngoại hối và đầu tư phát triển. Trung bình mỗi năm, số lao động Việt Nam đi nước ngoài chiếm xấp xỉ 10% chỉ tiêu việc làm mà nhu cầu trong nước cần giải quyết. Khi làm việc tại nước ngoài, trung bình 03 năm, người lao động có thể tích lũy được từ 500 - 700 triệu đồng, thu nhập bình quân cao hơn từ 5 đến 8 lần so với thu nhập ở trong nước. Với số tiền tích lũy được, nhiều gia đình đã vươn lên thoát nghèo, người lao động sau khi về nước có khả năng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất, quan trọng hơn là tay nghề, trình độ của họ cũng trở thành một nguồn lực quý khi về nước. Đây là nguồn vốn lớn bổ sung vào đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong nước.

Cùng với đó, những lợi ích từ xuất khẩu lao động còn có ý nghĩa quan trọng về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, góp phần giải quyết việc làm cho người dân - một trong những thách thức lớn với một nước đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là giải pháp để quốc gia thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhờ lao động được làm việc trong môi trường quốc tế, tiếp cận công nghệ hiện đại và học hỏi kỹ năng chuyên môn cao.

Như vậy, xuất khẩu lao động là chính sách đúng đắn, mang tính nhân văn của Đảng và Nhà nước Việt Nam; là chủ trương, chính sách mang lại lợi ích kép “ích nước, lợi dân”. Thực tiễn, không phải chỉ riêng Việt Nam đang thực hiện mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang tăng cường thực hiện; thậm chí có quốc gia, như:  Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc, Philippines,… còn xác định xuất khẩu lao động trở thành động lực quan trọng để phát triển đất nước. Vì thế, luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta mà Chân Trời Mới Media rêu rao, cần bị lên án và đấu tranh bác bỏ./.

 

Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc việc tinh gọn bộ máy

          Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đang được thực hiện quyết liệt, đồng bộ, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực. Tuy nhiên với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch lại hằn học, liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, gây hoang mang trong xã hội. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo trước luận điệu sai trái, bịa đặt, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng.

Ngay sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 126-KL/TW (ngày 14/2/2025) và Kết luận số 127-KL/TW (ngày 28/2/2025) về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025, trên một số trang mạng xã hội và báo chí phản động ở nước ngoài lập tức đăng tải những bài viết, ý kiến xuyên tạc vấn đề này như: cho rằng sáp nhập là do “ý chí chủ quan” của cá nhân nhằm “ghi điểm, tạo dấu ấn” hoặc “triệt hạ đối thủ”; “sáp nhập một thời gian rồi sẽ tách ra”; “sáp nhập, tinh giản biên chế, tinh gọn tổ chức cũng chỉ vì lợi ích nhóm”, v.v. Tuy nhiên thực tế đã chứng minh, tinh gọn tổ chức bộ máy là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta.

Quốc hội biểu quyết thông qua
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi).
(Ảnh: DUY LINH)

Ngay từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (Đại hội VI/1986) đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả. Bởi lẽ, bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn hoặc một số chủ trương không được triển khai, hay triển khai hình thức trên thực tế.

Văn kiện Đại hội lần thứ IX, XII, XIII của Đảng đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Ngày 17/4/2015, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức với mục tiêu đến năm 2021, tinh giản ít nhất 10% biên chế.

Tiếp đến ngày 25/10/2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết số 18 đặt ra mục tiêu đến năm 2021 cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn một số tổ chức và các đầu mối bên trong của từng tổ chức theo hướng giảm đầu mối, giảm tối đa cấp trung gian; giảm ít nhất 10% biên chế so với năm 2015. Đến năm 2030, hoàn thành việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn mới. Kết quả đến năm 2021, chúng ta tinh giản được 11,67% biên chế, vượt chỉ tiêu đề ra.

Trình bày Báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023 tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (tháng 5/2024), Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ) cho biết, Chính phủ đã ban hành 27 nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các bộ, ngành đã giảm 17 tổng cục và tương đương; giảm 10 cục và 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 108 phòng trong vụ/ban thuộc bộ, ngành; giảm 22 đơn vị sự nghiệp công lập.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, trong năm 2023, Thủ tướng phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 144 quy định kinh doanh. Tổng số quy định kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa từ năm 2021 đến nay là 2.770 quy định. Có 147 thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan quản lý dân cư được thực hiện đơn giản hóa đạt 49,26%. Về quản lý và tinh giản biên chế, thực hiện các nghị định của Chính phủ, từ năm 2015 đến ngày 15/12/2023, cả nước tinh giản biên chế 84.140 người.

Có thể khẳng định, cải cách bộ máy hành chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước, đồng thời giảm tới mức thấp nhất các chi phí hành chính không cần thiết. Từ ngày 1/3/2025, các cơ quan, đơn vị mới thành lập sau sáp nhập chính thức đi vào hoạt động theo hướng tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, góp phần tạo động lực phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.

Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy đã giảm đáng kể số đầu mối, cơ quan. Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy thực hiện theo nguyên tắc tổ chức hợp lý các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, thực hiện và chịu trách nhiệm chính, bảo đảm không chồng chéo, giao thoa, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Một kết quả bước đầu trong thực hiện chủ trương lớn này là mới đây, sau khi nghe báo cáo của Chính phủ về khả năng cân đối tài chính trong và sau quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Bộ Chính trị quyết định miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước; thời điểm thực hiện từ đầu năm học mới  2025 - 2026.

Quyết sách này không chỉ giảm gánh nặng cho gia đình học sinh ở vùng khó khăn, mà còn bảo đảm cơ hội học tập tốt nhất cho học sinh ở mọi địa bàn, mọi độ tuổi, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương phổ cập giáo dục trung học; từ đó nâng cao trình độ dân trí và tạo nền móng vững chắc để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tại các địa phương trong cả nước, từ nhiều ngày qua, cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan vừa được hợp nhất, sáp nhập, chuyển chức năng, nhiệm vụ đã bắt tay ngay vào kiện toàn, phân công, phân cấp, phân quyền nhiệm vụ, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ công tác của các đơn vị thông suốt ngay từ ngày đầu chính thức hoạt động. Đáng chú ý, từ ngày 1/3, tại công an xã, người dân được thực hiện một số thủ tục hành chính trước đây vốn thuộc thẩm quyền của công an huyện như: Đăng ký ôtô, xe máy; cấp mới, đổi, cấp lại thẻ căn cước cho người đủ từ 14 tuổi trở lên và cho người dưới 14 tuổi; cấp tài khoản định danh điện tử cho cơ quan, tổ chức; tiếp nhận hồ sơ cấp đổi, cấp lại giấy phép lái xe, v.v.

Có thể khẳng định chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy trong hệ thống chính trị được Đảng và Nhà nước ta triển khai với mục tiêu là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí “nuôi” bộ máy, dành nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân tốt hơn. Thế nhưng với thái độ hằn học và âm mưu chống phá, các thế lực thù địch lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt việc làm này “chỉ là hình thức, mị dân”, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ gây tốn kém, lãng phí.

Tổ chức khủng bố Việt Tân còn tiến hành cái gọi là “Luận bàn về bản chất của tinh giản biên chế”, trong đó mời một số người được gọi là “nhà khoa học” xuyên tạc về việc giảm biên chế là “bóp chỗ này, phình chỗ khác”, cán bộ giảm biên chế thực chất là cho “hạ cánh an toàn”, v.v. Một thủ đoạn khá tinh vi của các đối tượng thù địch là dựa trên số liệu chính thức của các cơ quan rồi “phân tích”, “bình luận”, “suy diễn”, “đổi trắng thay đen”. Chẳng hạn khi Chính phủ, Quốc hội và một số bộ, cơ quan sau khi sáp nhập, tổ chức lại số cán bộ cấp phó tăng hơn so với quy định, chúng lập tức rêu rao: “Càng tinh gọn lại càng phình ra”.

Đúng là có thực tế sau khi thực hiện sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại thì số cán bộ cấp phó ở một số cơ quan từ Trung ương đến địa phương tăng cao hơn so với quy định. Tuy nhiên, đây là giải pháp phù hợp cho giai đoạn chuyển tiếp, bởi số lượng cơ quan và cán bộ lãnh đạo thuộc diện phải sáp nhập, giải thể là rất lớn, không thể máy móc “áp” đúng số lượng cấp phó ngay tại thời điểm sắp xếp lại. Khi hợp nhất, sáp nhập hai cơ quan thì việc một cán bộ cấp trưởng và đội ngũ cán bộ cấp phó của hai cơ quan này nếu vẫn còn thời gian công tác, có trình độ, năng lực, kinh nghiệm, trở thành cấp phó của người đứng đầu cơ quan mới cũng là hợp tình, hợp lý, vừa không lãng phí nguồn nhân lực, vừa mang ý nghĩa nhân văn.

Đây cũng chỉ là giải pháp tình thế, sau một thời gian, số lượng cấp phó sẽ phải giảm đi. Cơ sở pháp lý của việc “nhiều cấp phó” này đã được quy định trong nghị quyết của Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV diễn ra mới đây. Khi sắp xếp tổ chức bộ máy mà số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhiều hơn số lượng tối đa theo quy định của pháp luật thì chậm nhất là 5 năm kể từ ngày quyết định sắp xếp tổ chức bộ máy của cấp có thẩm quyền có hiệu lực, số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan phải giảm theo đúng quy định. Như vậy, về lâu dài thì sẽ không có việc cấp phó “càng tinh gọn lại càng phình ra” như các luận điệu xuyên tạc.

Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi của các thế lực thù địch, người dân cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Không nên chia sẻ trên mạng xã hội thông tin thất thiệt, thông tin chưa được kiểm chứng từ cơ quan chức năng. Việc lan truyền thông tin chưa được xác thực có thể gây hoang mang và ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng.

Những trường hợp đăng tải thông tin sai sự thật sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần trang bị cho mình “bộ lọc” trong việc tiếp nhận thông tin cũng như “sức đề kháng” trước thông tin xấu độc, từ đó phát huy tính chủ động, kiên quyết đấu tranh với những đối tượng mượn danh “phản biện”, “dân chủ” để chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

(nguồn: nhandan.vn)

 

Mar 14, 2025

Chiến dịch kêu gọi “nố bịch” của RSF

Tre Việt - Ngày 07/3/2025, trang facebook VOA Tiếng Việt đăng bài “RSF mở chiến dịch kêu gọi phóng thích nữ ký giả Phạm Đoan Trang”. Trong bài viết, VOA rêu rao: “Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vừa công bố các chiến dịch ưu tiên của mình cho năm 2025, tập trung vào các mối đe dọa nghiêm trọng đối với quyền tự do báo chí và quyền được thông tin đáng tin cậy, đồng thời vận động trả tự do cho 5 nữ nhà báo trên thế giới, trong đó có bà Phạm Đoan Trang”. Không những vậy, họ còn cố tình đưa ra luận điệu nố bịch nhằm xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam, cũng như bao che, cổ súy cho hành vi phạm tội và “chiến tích” chống phá chính quyền nhân dân của “nữ chúa trong làng dân chủ” - Phạm Đoan Trang rằng: “Bà vẫn là biểu tượng truyền cảm hứng cho sự phản kháng trước sự đàn áp lan rộng của Việt Nam, nơi 39 nhà báo hiện đang bị giam giữ sau song sắt”.

Cần khẳng định ngay rằng, vụ án Phạm Thị Đoan Trang đã được xét xử công khai, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, theo đúng quy định của pháp luật. Trên cơ sở xét hỏi công khai tại các phiên xét xử sơ thầm và phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu và kết quả giám định. Các cơ quan tố tụng của Việt Nam xác định: hành vi của bị cáo Phạm Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân Trang là người có trình độ nhận thức nhất định, hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình, song vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, nên cần phải xử phạt nghiêm minh. Hội đồng xét xử các cấp đã tuyên phạt Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điểm a, b, c, Khoản 1, Điều 88, Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Đây là bản án đúng người, đúng tội, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam, được dư luận nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Vì vậy, việc RSF công bố các chiến dịch cho năm 2025, vận động trả tự do cho các nữ nhà báo trên thế giới, trong đó có Phạm Đoan Trang (người đang chấp hành hình phạt tù vì đã vi phạm pháp luật Việt Nam) không chỉ là trò hề, sự vô duyên, nố bịch đến nực cười, mà còn hoàn toàn vô ích. Bởi ai cũng biết: cái gọi là “chiến dịch kêu gọi” của RSF đây thực chất là sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một số quốc gia có chủ quyền, trong đó có Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Hành động này cần bị lên án, đấu tranh, bác bỏ./.

 

Phản bác luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ của Trung Khang

           Tre Việt - Mới đây, trên trang mạng phản động Rfa, Trung Khang đã phát tán bài viết “Nhóm lợi ích của ông Tô Lâm gồm những ai?”. Thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái sặc mùi phản động của Trung Khang, nhằm chia rẽ sự đoàn kết nội bộ và phủ nhận công tác cán bộ của Đảng ta. Vì vậy, chúng ta cần cảnh giác, vạch trần và kiên quyết đấu tranh với mọi mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Cả lý luận và thực tiễn đều minh chứng: Đảng ta lãnh đạo cách mạng bằng đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết. Những người biến mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị ấy thắng lợi là đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trên cơ sở tuân thủ, thực hiện nghiêm Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang, nhân dân ta từ kiếp “ngựa trâu, nô lệ” trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, có vị thế và uy tín cao trong cộng đồng quốc tế. Kết quả đó chính là sự tận tâm, tận hiến, hy sinh, phấn đấu bền bỉ, kiên cường của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đóng góp. Vì thế, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Mọi vấn đề về công tác cán bộ của Đảng luôn dân chủ, công khai, rõ ràng và minh bạch; Đảng ta luôn kiên quyết đấu tranh loại bỏ mọi biểu hiện cục bộ, bè phái trong Đảng. Minh chứng cho điều này chính là việc Đảng ta luôn thực hiện nghiêm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xử lý nghiêm minh, kiên quyết mọi biểu hiện tiêu cực nói chung, công tác cán bộ nói riêng để Đảng ta luôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; luôn vì sự nghiệp chung của dân tộc, vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân mà chiến đấu; biết đặt mình trong sinh mệnh của nhân dân, gắn bó với lợi ích quốc gia – dân tộc, hết lòng vì dân, vì nước.

Đảng ta quang minh, chính đại, luôn “dĩ công vi thượng”, không che giấu hạn chế, khuyết điểm; trung thực, dũng cảm nhận sai lầm và kiên quyết đấu tranh sửa chữa, khắc phục để luôn tiến bộ, trưởng thành, để dân yêu, dân mến, dân tin. Vì vậy, những cán bộ, đảng viên không tu dưỡng, rèn luyện, không giữ lời thề của mình khi vào Đảng, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không còn đủ tư cách người cán bộ, đảng viên thì việc bị loại bỏ là lẽ đương nhiên, hoàn toàn hợp quy luật. Đây không phải là sự “đấu đá nội bộ” hay “triệt hạ” như một số kẻ rêu rao xuyên tạc.

Với quyết tâm xây dựng Đảng vững mạnh, nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo có tâm, có tầm để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”, đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững. Điều đó được minh chứng trong thực tiễn từ khi Đảng ta mới thành lập; đặc biệt, gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Quy mô nền kinh tế phát triển mạnh, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 194 quốc gia và vùng lãnh thổ; có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 230 đối tác và quan hệ hợp tác với hơn 300 tổ chức quốc tế. Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á; đứng thứ 35 trên thế giới; quy mô thương mại trong top 20 thế giới. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh.

Cần nhắc lại một lần nữa, những thành tự to lớn đó có sự đóng góp hết sức quan trọng mang tính quyết định của đội ngũ cán bộ, đảng viên; nhất là, các đảng viên giữ trọng trách trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư, Bộ Chính trị. Đây là sự thực không thể phủ nhận! Tự nó bác bỏ mọi xuyên tạc về công tác cán bộ của Trung Khang và đồng bọn./.

Mar 12, 2025

Vũ Đức Khanh lại “nói càn”

         Tre Việt - Lợi dụng sự thay đổi về nhân sự của Đảng, đặc biệt là những cán bộ chủ chốt cấp Trung ương, mới đây Vũ Đức Khanh có bài viết đăng trên trang Baotiengdan, trong đó Y nói càn rằng, ở Việt Nam “đang bất ổn chính trị”, “tranh giành quyền lực”. Cần khẳng định rõ: đây là luận điệu sai trái, lạc lõng hòng xuyên tạc tình hình nhân sự của Đảng ta, gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, thao túng tâm lý một bộ phận quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; hạ thấp uy tín, dẫn đến phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Trước hết, công tác nhân sự của Đảng xuất phát từ quan điểm “cán bộ là gốc của mọi công việc” và việc thay đổi, sắp xếp nhân sự trong bộ máy lãnh đạo là công tác thường xuyên, nhằm làm cho Đảng ta luôn đủ sức lãnh đạo, bảo đảm vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đây cũng là việc làm hợp quy luật. Do vậy, việc miễn nhiệm, cho thôi giữ các chức vụ đối với những đảng viên không còn đủ uy tín và bầu những đồng chí có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, nhất là các vị trí chủ chốt trong Đảng là rất cần thiết. Thực hiện tốt công tác này sẽ xây dựng một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, một Bộ Chính trị mạnh, một Ban Bí thư mạnh, thật sự đoàn kết, thống nhất cao xung quanh người đứng đầu để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức gánh vác trọng trách vinh quang, nhưng rất nặng nề của mình là: lãnh đạo hoàn thành sứ mạng lịch sử, nhiệm vụ chính trị của mình, đưa đất nước ta ngày càng phát triển, Nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc. Không chỉ thế, thông qua công tác này, Đảng ta còn xây dựng được đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tấm gương nói đi đôi với làm, thân dân và trọng dân. Người cán bộ, đảng viên thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Gần dân là để học dân, nghe dân nói, đó là phương châm của người cán bộ, đảng viên. Gần dân sẽ tránh được căn bệnh quan liêu, hách dịch, mệnh lệnh, lắng nghe tâm tư, ý kiến của dân. Từ đó xây dựng tinh thần đoàn kết, đồng thuận để mọi người dân chung sức, đồng lòng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với kết quả cao nhất.

Thứ hai, thực tiễn cho thấy, bên cạnh những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới, Đảng, nhân dân ta đang đứng trước nguy cơ lớn là tình trạng quan liêu, xa rời nhân dân; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, tham nhũng, tiêu cực gây bất bình trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này tìm đủ mọi chiêu trò phá hoại, công kích hòng gây chia rẽ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng. Vì vậy, giải pháp quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với công tác xây dựng Đảng và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng là phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; Đảng xứng đáng là người lãnh đạo, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc. Đây cũng là nhiệm vụ then chốt, trọng yếu thường xuyên qua từng thời kỳ cách mạng với những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp thực hiện khác nhau.

Thứ ba, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ là việc diễn ra bình thường, không chỉ ở Việt Nam, mà ở các nước trên thế giới, không phải đến bây giờ mới có mà đã có từ trước. Sau cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức Đảng (1955 – 1956), đồng chí Lê Văn Lương tự nhận thấy có phần trách nhiệm trong công tác chỉnh đốn tổ chức Đảng đã xin tự rút khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Ngoài ra, các đồng chí lãnh đạo cao nhất trong Ban Chỉ đạo cải cách ruộng đất cũng nhận trách nhiệm về mình, như: Tổng Bí thư Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, v.v. Hiện nay, vấn đề miễn nhiệm, từ chức, cho thôi giữ các chức vụ đã được đặt ra trong các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và được luật hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Cụ thể, Quy định số 41 ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ đã nêu rõ, căn cứ xem xét việc miễn nhiệm, từ chức liên quan đến trách nhiệm người đứng đầu, là miễn nhiệm đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng. Người đứng đầu lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực thì tùy tính chất, mức độ sai phạm để xem xét cho từ chức. Nên, việc miễn nhiệm, từ chức, cho thôi giữ các chức vụ đối với cán bộ thời gian qua là hoàn toàn đúng theo quy định và trên thực tế đã mang lại những tác động tích cực, được dư luận xã hội đồng tình. Công tác này được Đảng ta được thực hiện một cách dân chủ, chặt chẽ, khách quan, minh bạch.

Như vậy, có thể thấy, việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán là việc bình thường, cùng với việc lựa chọn, rèn luyện cán bộ, Đảng ta cũng thẳng thắn, đánh giá chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ để họ sửa chữa. Đối với những cán bộ không còn đủ uy tín, việc xin thôi giữ chức vụ cũng không hề khó hiểu. Điều này cho thấy, công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước ta đang thực hiện một cách nghiêm túc, loại bỏ tư tưởng chỉ có lên không có xuống, đã lên rồi thì rất khó xuống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Việc miễn nhiệm, từ chức, cho thôi giữ các chức vụ của cán bộ hoàn toàn không thể và không phải do bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có thể ép buộc, áp đặt một cách vô căn cứ. Đảng và Nhà nước ta đã có những quy định rõ ràng, chặt chẽ, đầy đủ căn cứ pháp lý đối với việc miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, đó là hoạt động bình thường trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, chứ không phải là “tranh giành quyền lực”, “loại bỏ đối thủ chính trị” như những gì Vũ Đức Khanh nhắm mắt nói càn./.