Tre Việt - Gần
đây, trên một số trang mạng xuất hiện ý kiến xuyên tạc về thân thế, sự nghiệp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc làm vụng về, vô căn cứ của họ chẳng khác nào dùng
“vải thưa che mắt thánh”.
Nov 9, 2013
Nov 6, 2013
Mua kính..
Anh nọ dốt đặc cán mai, thấy các ông già bà cả mang kính xem sách, bắt chước ra chợ hỏi mua một đôi. Vào hiệu, bảo chủ hiệu đem ra cho anh ta chọn.
Anh ta đeo kính vào, lấy cuốn lịch đem theo ra xem, xem xong lại bảo chủ hiệu cho chọn đôi khác. Chủ hiệu chiều ý, chọn cho anh ta năm sáu đôi, nhưng đôi nào anh ta cũng không ưng ý. Chủ hiệu bèn chọn một đôi tốt nhất trong hiệu đưa ra. Anh ta đeo vào, lại lấy cuốn lịch ra xem, vẫn lắc đầu chê xấu. Chủ hiệu lấy làm lạ, liếc thấy anh ta cầm cuốn lịch ngược mà xem, sinh nghi, liền hỏi:
- Sao đôi nào cũng chê xấu cả?
Anh ta đáp:
- Xấu thì bảo xấu chứ sao! Kính tốt thì tôi đã xem chữ được rồi!
Chủ hiệu nói:
- Hay là ông không biết chữ?
Anh ta đáp:
- Biết chữ thì đã không cần mua kính.
Nov 5, 2013
Từ lệch lạc trong khoa học đến cực đoan về chính trị
Tre Việt - Thời gian
gần đây, dư luận xã hội phản ứng
khá gay gắt về một bản Luận văn Thạc sĩ
thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, được bảo vệ
thành công năm 2010. Câu hỏi đặt ra là tại sao một luận văn đã bảo vệ thành
công mà lại khiến dư luận dậy sóng như vậy?
Luận văn Thạc sĩ (LVTS) “Vị trí của kẻ bên lề: Thực
hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” (gọi tắt là Vị trí của kẻ bên lề ) tồn tại với tính
cách một công trình khoa học được chấm điểm xuất sắc (10/10). Tuy nhiên, người
mơ hồ nhất cũng sẽ không khỏi hoài nghi về giá trị khoa học thực sự của công
trình này khi nó đi vào nghiên cứu một nhóm thơ mà“sự nổi loạn, cách tân đã thất bại, đã bị
cuộc sống chối bỏ và trên thực tế đã gần như cáo chung”, cùng với đó là những tiêu chí cơ bản nhất cần sự xác
tín khoa học trong công trình này lại đều “có vấn đề”.
1. Từ lệch
lạc về khoa học
Dễ dàng nhận thấy là, ở góc độ khoa học, LVTS này đã phạm sai lầm lớn khi chọn “Thực hành
thơ của nhóm Mở
Miệng” làm đối tượng nghiên cứu. Hãy
cùng lắng nghe dư luận về Mở Miệng: Phần đông bạn đọc bức xúc, phản đối vì không thể chịu
đựng được khi va chạm với một mớ ngồn ngộn những từ ngữ tục tĩu, bệnh hoạn, nổi
loạn, phản động, “không thể phản văn hóa hơn”, không “thơ” chút nào trong cái
được gọi là thơ của nhóm này. Không ít nhà
nghiên cứu cho rằng đây là “thứ rác rưởi được gọi là thơ”, là “làn gió thối”, “nhánh
kênh đen” cần phải đào thải. Ngay trong LVTS này cũng viết về Mở Miệng là “Lạ, Phá Phách, phá hỏng tiếng Việt, phản
kháng về chính trị, chống đối chính quyền”; Thậm chí, chủ nhân của Mở Miệng (Khúc Duy, Bùi Chát, Lý Đợi, Nguyễn
Quán) cũng
gọi thơ mình là “thơ dơ”, “thơ rác”, “thơ
nghĩa địa”… Lực lượng duy nhất nhiệt thành thổi phồng, ngoa ngôn ca tụng nhóm
này là dăm ba trang mạng ở hải ngoại (trong đó có những trang chống cộng nổi
tiếng) và một hai nhà nghiên cứu “đồng chí hướng”(?!)… Sự thực là, với một đối tượng
“đặc biệt” như Mở Miệng, nội dung của LVTS
này đã
không đem đến giá trị khoa học gì đáng kể
để cống hiến cho lý luận, thực tiễn và nền học thuật của nước nhà ngoài việc “nhân
danh nghiên cứu để ca ngợi thứ “thơ” rác rưởi”. Thế mà không biết
vì mục đích gì, tác giả luận văn lại chọn lựa đối tượng này để nghiên cứu?
Tiếp đến là sự nhập nhằng, thiếu minh bạch trong mục
đích và phương pháp nghiên cứu. Ở đây có sự mâu thuẫn, bất nhất giữa đề tài
luận văn (Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành
thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn
hóa)
với nội dung được khẳng định nhiều lần:“Tính khách
quan của nghiên cứu không được đề cao… Nỗ lực của tôi là nỗ lực của kẻ quan sát
và tái hiện, dưới góc nhìn cá nhân”.
Làm sao lại có thể đánh đồng “góc
nhìn văn hóa” với “góc nhìn cá nhân” khi một bên đại diện cho “những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng”5 còn bên kia chỉ là đại diện cho cái tôi của một con
người cụ thể đầy cảm tính, chủ quan và không ít cực đoan, phiến diện, khiếm
khuyết? Nhập nhằng, thiếu minh bạch giữa sự minh triết của góc nhìn văn hóa với góc nhìn
của “những kẻ bên lề” trong luận
văn khiến cho ranh giới của “trung tâm” và “bên lề”, văn hóa và phản văn hóa,
chuẩn mực và thiếu chuẩn mực, giá trị và phản giá trị, chính thống và phi chính
thống… cơ hồ vì thế mà lung lay và có nguy cơ bị đảo lộn. Rõ ràng là có một sự “chuyển
hóa” từ mục đích nghiên cứu ban đầu (văn hóa, văn học) sang một mục đích, một mưu
toan khác (chính trị)! Chuyển hóa về mục đích nghiên cứu, triển khai “góc nhìn cá nhân”, tự nguyện “đứng về phía cái bên lề” đồng nghĩa với
việc tác giả luận văn tự tước đoạt vị thế, tư cách khoa học của mình. Do đó, dẫn đến những lệch
lạc về nội dung và kết quả nghiên cứu của
đề tài này.
Lệch lạc lớn nhất về nội dung và kết quả nghiên cứu trong LVTS này
là những đánh giá đầy phiến diện, thiếu khách quan về Mở Miệng và nền văn hóa,
văn học nghệ thuật Việt Nam .
Điều này phản ánh sự lệch chuẩn trong nghiên cứu khoa học. Trước hết, về Mở Miệng, với mục đích lôi “những rác
thải được gọi là thơ” của Mở Miệng
lên hàng “số một”, giúp nhóm thơ này có thể “soán
ngôi trung tâm”, thành “trung tâm” của thơ Việt đương đại, những kết luận vội
vàng, thái quá đã được đưa ra: “Lẽ ra Mở
Miệng có thể thành một cú hích để xới lật nhiều vấn đề về thơ đương đại cả lý
thuyết lẫn thực hành…”; “…sự có mặt
của Mở Miệng không phải như một bột phát, mà một tất yếu, không phải như những
anh hùng riêng lẻ, mà như những người tiên phong của một tập hợp”... Nhiều từ ngữ
tục tĩu, thô bỉ, với người bình thường thì chỉ cần đọc thầm đã thấy ngượng ngùng, vậy mà luận văn
trích dẫn đường hoàng chẳng chút e dè để rồi tán
tụng rằng“Những thi phẩm này (đúng là
phải gọi bằng từ ‘thi phẩm’) đều sạch, đẹp và giàu năng lượng lẫn cảm xúc”,
thán phục rằng“Hiếm có bài thơ nào sử
dụng những chữ vốn bị cho là cấm kị tài tình và hấp dẫn đến thế, thẳng băng,
ngang hàng, không kêu gọi đòi lật đổ, mà bản thân nó đầy sức mạnh lật đổ”, … Bên
cạnh đó, luận văn còn sử dụng một cách tùy tiện, nực cười hàng loạt những mỹ từ như “một
huyền thoại”, “kẻ dọn đường cho tương
lai”, “kẻ mở đường cho sự dựng xây
mới”, “những người cách mạng”, “những người tiên phong của một tập hợp”
nhằm tung hô cho “nhánh kênh đen” của thơ Việt. Trái khoáy là đánh giá về Mở Miệng thì
như vậy nhưng trước những giá trị sáng tạo thuộc các hiện tượng văn học, văn
hóa khác thì đánh giá của luận văn lại thiếu khách quan trong sự “nỗ lực” phủ
nhận khi
cho rằng “xơ cứng và
bảo thủ”, “già cỗi, mòn sáo và chuyên chế”, thậm chí cả một nền văn chương
Việt Nam đương đại với không ít cách tân, đổi mới, cống hiến lại bị ví như “cái ao tù đặc sệt”; Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) lại được luận văn này gán
như “hình ảnh
bảo thủ của một ý thức hệ lỗi thời và sự hèn nhát của một lớp nhà văn bại trận”; “chức danh
trong Hội nhà văn mang tính chất hữu danh vô thực nhiều hơn”; “Nói riêng trong thơ Việt, nước thơ này đã
tạo ra vô bờ bến các tác phẩm thơ tầm thường được cấp phép hàng năm”… Đây
là minh chứng xác đáng nhất về sự mâu thuẫn đầy thiên kiến trong tư duy khoa học của luận văn. Một mặt, luận văn đòi “đa nguyên văn hóa”, “đa âm
văn học”, “tự do cho từ ngữ”, bình đẳng giữa “trung tâm – ngoại vi”; mặt khác, để giúp Mở Miệng có thể “soán ngôi, chiếm chỗ
trung tâm” (ít nhất là trong Vị trí của
kẻ bên lề), những đánh giá của luận văn đã biểu thị sự phi khoa học khi vô cớ dẫm đạp,
chế giễu, mỉa mai các giá trị sáng tạo, những cống hiến đã được thời gian, công
chúng ghi nhận của không ít thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam. Những biểu hiện đó vĩnh viễn không bao giờ là phẩm chất đích thực của
khoa học và cũng vĩnh viễn không thể là phương cách đúng để dẫn dắt tác giả đến được với chân lý của những giá trị, nhất là
những giá trị văn hóa, khoa học cho con người và cuộc đời.
2. Đến sự
cực đoan về chính trị
Sau khi hoàn thành việc
bảo vệ, Vị trí của kẻ bên lề còn được
“tái chế” để đăng đàn trên một trang web ở hải ngoại với hình thức 5 tiểu luận
thuộc dự án “Những tiếng nói ngầm” (hoàn thành năm 2012, bút danh Nhã Thuyên) và
được một số cây bút phản động nổi tiếng cổ vũ nhiệt liệt. Điều đó hé mở phần
nào câu trả lời cho những nghi vấn về việc có hay không một mưu toan mang tính
cơ hội cá nhân núp dưới danh nghĩa khoa học? Điều này càng hiển hiện rõ ràng
hơn khi một LVTS thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam mà lại dung chứa không ít những phát ngôn thiếu căn cứ, quy chụp, bôi nhọ,
xuyên tạc về chính trị, tập trung chính vào tuyên truyền, đả phá, kêu gọi đòi
tự do ngôn luận, tự do sáng tạo. Hầu như trang nào trong LVTS này cũng đề cập
đến bình đẳng, tự do ngôn luận, tự do dân chủ ở Việt Nam với những câu chữ được
buông xả cùng thái độ hằn học: “Cơn hưng
phấn của thời Đổi Mới nhanh chóng biến thành nỗi hụt hẫng vì sự thắt chặt lại
của chính sách, với Đại hội Đảng VII năm 1991” và những mỉa mai đầy ngạo
mạn “Chiếc bánh vẽ của Nhà nước về đổi mới và tự do bị hoài nghi”. Đáng nói là, luận văn còn quy kết một cách đầy cực
đoan, cảm tính khi cho rằng nguyên nhân dẫn đến mất tự do trong nghệ thuật là
bởi “chính quyền vẫn đòi hỏi nghệ thuật
phải thống nhất bởi ý thức hệ đơn nhất là chủ nghĩa Mác”; Khi một nhà thơ tài năng đã bị đẩy đến chỗ
phải tự quyết định bên lề hóa chính mình, có thể coi đó là dấu hiệu của ‘thời
loạn’…”. Với lời lẽ như vậy, cái gọi là công trình khoa học
này đã cố tình “đổi màu” từ chính luận sang tà luận một cách sống sượng, khiên
cưỡng. Cần nói rõ là Đảng Cộng sản Việt Nam không tạo ra bất kỳ “vùng cấm” (chữ dùng trong luận văn) nào trong nghiên
cứu khoa học và sáng tạo văn chương, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã khẳng định đường lối của Đảng ta về văn hóa, văn nghệ
là:“Bảo đảm tự do sáng tác”, “Khuyến
khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách…”. Tuy
nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng văn hóa, văn nghệ cũng có quy định, lề lối và
giới hạn của nó, nghĩa là mọi sáng tạo phải trên cơ sở “Cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên; phê phán những thói hư tật
xấu, lên án cái xấu, cái ác”, bên cạnh đó, người nghệ sĩ cũng phải “nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm
xã hội” và kiên quyết “Bài trừ các
khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính”4. Hãy nhìn vào lịch sử để hiểu rằng, tại sao chúng ta kiên định đi theo ánh sáng soi đường
chỉ lối của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo toàn diện của
Đảng Cộng
sản Việt Nam mà không phải một sự đa
nguyên về ý thức hệ nào khác! Nếu không đứng vững trên đôi chân lịch sử và thực
tiễn, không nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội trong ngòi bút và
quá trình nghiên cứu đề tài thì kết quả thu được cũng chỉ là những “tà văn” phi
khoa học, là minh chứng cho những nhận thức lệch lạc, méo mó, vô trách nhiệm
của một công dân, một trí thức chối bỏ lịch sử, chà đạp lên thành quả của cách
mạng và sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Có thể nói, bản luận văn đã xúc phạm nghiêm trọng đến hình
ảnh nhà giáo và truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp trồng người của một trường
sư phạm danh tiếng trên phạm vi cả nước. Sẽ thật khó mà lường hết những hệ lụy mà
Vị trí của kẻ bên lề đã và đang ảnh
hưởng đến những người tiếp cận trực tiếp với nó như một tài liệu tham khảo
chính thống trên thư viện nhà trường. Song, những hệ lụy hiển nhiên trước mắt
mà chúng ta có thể thấy chính là: Thứ
nhất, làm méo mó nhận thức của những người trẻ (còn ít trải nghiệm, thiếu
bản lĩnh) về thực tế chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước hiện nay trong sự
nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Thứ
hai, gây hoang mang trong nhận thức của thế hệ trẻ về những chuẩn mực giá
trị, chuẩn mực thẩm mỹ của sáng tạo nghệ thuật (thế nào là đúng/sai, đẹp/xấu,
nhân văn/ phản nhân văn…); Thứ ba,
đem đến cho họ khuôn mẫu của một công trình khoa học (đạt xuất sắc) nhưng lại đầy
sai lầm, lệch lạc, v.v.
Một câu hỏi lớn được đặt ra là: sự lệch lạc, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” ở một cá thể là điều dễ nhận diện nhưng còn trách nhiệm của một Hội đồng chấm LVTS? Cách ứng xử của những nhà
quản lý trước vấn đề được dư luận quan tâm sẽ ra sao? Làm thế nào để hình ảnh
của nhà trường sư phạm và ngành giáo dục được bảo vệ? Những tư tưởng “tự diễn
biến” đội lốt văn chương có bị phê bình, lên án trên cả phương diện khoa học và
quản lý?, v.v.
Sự thực thì văn chương là một câu chuyện dài. Giá trị,
cống hiến của một tác phẩm, một cái tên không nằm ở sự xưng tụng của bất cứ cá
nhân nào mà sẽ được khẳng định bằng sức sống của mỗi tác phẩm trong lòng công
chúng. Chỉ mong sao những ai đang đứng ở vị trí của nhà giáo, nhà văn, nhà khoa
học, nhà tư tưởng hãy cùng suy nghĩ về lời nhắc nhở của Lỗ Tấn: “Một người thầy thuốc kê đơn bậy chỉ giết
chết có một người, làm một viên võ tướng điều
binh khiển tướng bậy chỉ nướng hết một đạo quân, còn làm một nhà văn viết bậy
sẽ di hại tới hai, ba thế hệ” để trên cơ sở đó, có trách nhiệm hơn với ngòi bút của
mình, phấn đấu viết lên những tác phẩm văn học, nghệ thuật, những công trình
thuộc khoa học xã hội và nhân văn “đáp ứng
nhu cầu tinh thần lành mạnh, đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu cho công
chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ”, góp sức xây dựng
và phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
trong tình hình mới.
Nov 4, 2013
Không thể chấp nhận lời biện minh “bảo vệ nhân quyền” của Mỹ
Tre Việt - Khóa họp Đại Hội đồng
Liên hợp quốc 68 khai mạc ngày 18-9-2013, với sự tham dự của các đại
diện đến từ 193 quốc gia thành viên và nhiều tổ chức quốc tế, khu vực. Khóa họp
lần này tập trung vào nhiều vấn đề lớn của thế giới, như: an ninh quốc tế, cuộc
chiến chống khủng bố, nâng quỹ cho các lực lượng gìn giữ hòa bình và đặc biệt
là thúc đẩy các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDGs).
Trong các nội dung đó, vấn đề nổi bật nhất được các đại biểu hết sức chú
trọng đưa ra bàn đàm phán là việc Mỹ đơn phương áp đặt chính sách bao vây,
cấm vận kinh tế toàn diện chống Cu-ba. Nhận rõ, đây là một chính sách phi lý,
vô nhân đạo, vi phạm luật pháp quốc tế và hiến chương Liên hợp quốc. Vì
thế, ngày 29-10, Ðại Hội đồng Liên hợp quốc đã quyết định bỏ phiếu thông qua
Nghị quyết về “Sự cần thiết phải chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế, thương mại
và tài chính của Mỹ chống Cu-ba”, yêu cầu chính quyền Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm
vận. Nghị quyết đã nhận được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số các đại biểu
tham dự Phiên họp, với 188 phiếu thuận chỉ có 02 phiếu chống là Mỹ và
I-xra-en. Lý giải về vấn đề đó, Mỹ đã đưa ra lời biện minh cho chính sách bao
vây, cấm vận chống Cu-ba là nhằm “bảo vệ nhân quyền”, nên vẫn một mực
áp đặt chính sách phi lý, vô nhân đạo, đi ngược với xu thế phát triển,
tiến bộ của nhân loại. Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã có nhiều lần (22
lần) ra nghị quyết về vấn đề này, song chính quyền Mỹ đã cố tình phớt
lờ, gạt bỏ để theo đuổi mục đích đến cùng là buộc nhân dân Cu-ba phải từ
bỏ mục tiêu con đường xây dựng phát triển đất nước đi lên CNXH. Rõ ràng là
Mỹ đã vi phạm nghiêm trọng về việc tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công
việc nội bộ của các nước và quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Bức xúc trước lời
biện minh lạc lõng của Mỹ, đại diện nhiều nước trên thế giới đang tham dự Khóa
họp, như: Nga, I-ran, Mê-hi-cô, Ấn Ðộ, In-đô-nê-xi-a, Trung Quốc,... đã lên án
mạnh mẽ chính sách cấm vận đơn phương của Mỹ; đồng thời, kêu gọi Mỹ phải tôn
trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và dỡ bỏ ngay lệnh cấm
vận này. Ông X.Xô-li-dơ (Ðại sứ Bô-li-vi-a tại Liên hợp quốc) đã
thắng thắn tố cáo chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ chống Cu-ba là vi phạm
quyền con người, tự bộc lộ mưu đồ thống trị của nước lớn, làm “nhơ bẩn
lịch sử nhân loại”; đại diện Ni-ca-ra-goa coi đó là hành động “tội phạm và
vô nhân đạo”,… Không chỉ có cộng đồng quốc tế, mà nhiều giới chức và
nhân dân tiến bộ Mỹ cũng phản đối, đòi Oa-sinh-tơn dỡ bỏ lệnh cấm vận phi lý và
vô nhân đạo đối với Cu-ba.
Tuy nhiên, lời biện minh “bảo
vệ nhân quyền” của Hoa Kỳ cũng vô tác dụng, bởi thực tiễn 05 thập kỷ qua
cho thấy, nhân dân hòn đảo “Tự do” này luôn đoàn kết một lòng, tin tưởng tuyệt
đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cu-ba, vượt qua muôn vàn khó khăn,
thách thức; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi mưu toan chống phá của các
thế lực thù địch, vững bước tiến lên xây dựng CNXH.
Điều đó cho thấy, chính
sách bao vây, cấm vận của Mỹ chống Cu-ba cũng chẳng mang lại lợi ích gì, mà
ngược lại còn gây phương hại đến uy tín, hình ảnh và đánh mất niềm tin của
chính mình trên trường quốc tế, nhất là đối với các nước khu vực Mỹ La-tinh.
Oa-sinh-tơn đã tự tạo ra rào cản trên con đường đi đến cải thiện,
củng cố mối quan hệ với các nước và như vậy, điều tất yếu cuối cùng sẽ đến là
tự mình “chuốc vạ vào thân”, “gieo nhân nào, gặt quả đó”. Thế giới
đang hy vọng sự thức tỉnh của Chính quyền Mỹ sau “giấc ngủ” kéo dài hơn 05 thập
kỷ, nhất là khi mà lời biện minh “bảo vệ nhân quyền” cho một chính
sách phi lý, vô nhân đạo là không thể chấp nhận được.
Nov 1, 2013
Quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam
Các
bác thân mến!
Em
mới đọc được mấy bài trên blog nói về tôn giáo ở nước mình. Nhưng xem ra mấy
bác đó nói chả đúng gì cả. Em có bài này cho các bác đọc nè...
Oct 29, 2013
'Obama biết Mỹ nghe lén Thủ tướng Merkel từ 2010'
Phương tiện truyền thông Đức cho biết Mỹ đã bắt đầu theo dõi Thủ tướng Đức Angela Merkel từ năm 2002, và Tổng thống Barack Obama đã được thông báo về việc này từ lâu.
Oct 28, 2013
Nguyễn Tâm Thức nhưng tâm vẫn ngủ
Tre Việt - Nguyễn Tâm Thức có bài viết:
“Cần trả lại món nợ lịch sử”
được BBC tiếng Việt công bố ngày 25-10 vừa rồi. Qua bài viết cho thấy, mặc dù
có cái tên rất hay “Tâm Thức”, nhưng lại cho thấy cái tâm của tác giả bài viết
vẫn ngủ, vẫn mộng du.
Oct 27, 2013
Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) lại định kiến về tự do ngôn luận của Việt Nam
Tre Việt - Ngày 25-10, VOA tiếng Việt đăng bài: “RSF: Việt Nam tận dụng mọi cách đàn áp quyền tự do ngôn luận” của
Trà Mi. Qua bài viết thấy rõ Tổ chức
Phóng viên không biên giới (RSF) lại định kiến về tự do ngôn luận của Việt Nam.
Bằng chứng là ngày
23-10-2013, cũng trên VOA tiếng Việt, đăng bài: “Cố vấn an ninh Mỹ bị sa thải
vì chê bai đồng nghiệp trên Twitter”, cho biết: Ông Jofi Joseph, một cố vấn an
ninh của Tòa Bạch Ốc, đã bị sa thải sau khi bị phát giác cho đăng những bình
luận ác ý về đồng nghiệp của mình trên Twitter. Thế mà, việc Blogger Đinh Nhật
Uy bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An sẽ đưa ra xét xử vào ngày 29-10 vì tội “lợi
dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” bởi đã đăng tải lên
Facebook cá nhân ý kiến phản đối bản án 4 năm tù của em trai về tội danh “tuyên
truyền chống nhà nước” trong vụ xử hai sinh viên là Đinh Nguyên Kha và Nguyễn
Phương Uyên, ông Benjamin Ismail (Giám đốc phụ trách ban Á Châu - Thái Bình
Dương thuộc Tổ chức Phóng viên Không Biên giới) lại cho rằng: “Khi một người
dùng mạng xã hội Facebook để đòi công lý và kêu gọi phóng thích cho em trai của
mình mà bị nhà cầm quyền bắt và truy tố điều này chứng tỏ sự đàn áp ngày càng
nặng tay của Hà Nội và mức độ không chấp nhận chỉ trích của nhà cầm quyền Việt
Nam đã lên tới đỉnh điểm”.
Qua hai sự việc trên cho
thấy, tuy là hai sự việc: một diễn ra ở Mỹ, một ở Việt Nam nhưng đều giống nhau
ở chỗ là sử dụng mạng xã hội Twitter và Facebook để vi phạm khoản 3, Điều 19,
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị: “1: Mọi người đều có quyền giữ
quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn
luận…”; 3: Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này kèm theo những
nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất
định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc
gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Vậy mà RSF
lại hồ đồ nói rằng: điều luật 258 là một hình thức khác của sự bóp nghẹt quyền
tự do tư tưởng tại Việt Nam
sau các điều luật, như: 88 (tuyên truyền chống nhà nước) hay 79 (âm mưu lật đổ
chính quyền). Còn sự việc Cố vấn an ninh Mỹ bị sa thải vì chê bai đồng nghiệp
trên Twitter thì RSF lại không hề đếm xỉa đến và luôn ca ngợi tự do kiểu Mỹ.
Qua đó cho thấy thái độ không khách quan của RSF: đối với Việt Nam thì “Không
ưa dưa có dòi”, còn với Mỹ thì “Yêu nhau một trăm chỗ lệch cũng kê cho vừa”.
Một tổ chức không có chứng kiến rõ ràng thì không thể tin cậy. RSF là một tổ
chức như vậy./.