Jan 13, 2025

Giúp Cuba làm điện mặt trời - tại sao không?

           Tre Việt – Vừa qua, theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bộ Công thương Việt Nam đã cử đoàn chuyên gia sang giúp Cuba phát triển điện mặt trời, góp phần giúp Cuba không thiếu điện. Nhưng trên Facebook Việt tân ngày 12/01 có bài nhắc đến: các dự án sai phạm, nhiều quan chức bị kỷ luật, các bế tắc trong sử dụng điện mặt trời,... để cho đây là “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng”. Thực tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế ngày càng được thúc đẩy, việc Việt Nam cử đoàn chuyên gia sang hỗ trợ Cuba phát triển điện năng lượng mặt trời là một hành động đúng, dựa trên qua ba cơ sở chính sau.

Một là, Việt Nam có kinh nghiệm và năng lực trong phát triển năng lượng mặt trời. Mặc dù Việt Nam vẫn đang đối mặt với một số vấn đề trong việc triển khai và quản lý các dự án năng lượng mặt trời, nhưng không vì thế mà phủ nhận nhiều thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực này. Trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã triển khai 140 dự án điện năng lượng mặt trời trên khắp cả nước với trên 20 dự án dự án lớn, có công suất từ 50 MWp trở lên được triển khai thành công; vươn lên trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về công suất lắp đặt điện mặt trời. Việc Việt Nam có những sai phạm và thách thức trong quá trình phát triển là điều khó tránh khỏi; đặc biệt khi lĩnh vực này còn khá mới mẻ và phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, những sai lầm này cũng mang lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu, giúp Việt Nam không chỉ hoàn thiện hệ thống quản lý mà còn có thể chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia khác, bao gồm Cuba.

Hai là, Hợp tác quốc tế không chỉ là hỗ trợ mà còn là cơ hội học hỏi lẫn nhau. Hỗ trợ Cuba không có nghĩa là Việt Nam đang “dạy” Cuba từ vị trí vượt trội, mà là một quá trình hợp tác đôi bên cùng có lợi. Cuba là một quốc gia có lịch sử phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng sinh khối và điện gió. Trong qua trình này, Cuba không chỉ hợp tác riêng với Việt Nam mà còn hợp tác với nhiều quốc gia khác có trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý cao hơn chúng ta. Do đó Việt Nam và Cuba hợp tác trong lĩnh vực năng lượng mặt trời không chỉ giúp Cuba tiếp cận với công nghệ và kinh nghiệm của Việt Nam mà còn mở ra cơ hội để Việt Nam học hỏi từ những thế mạnh và cách tiếp cận độc đáo của Cuba và các đối tác khác. Ngoài ra, việc tham gia vào các dự án quốc tế giúp Việt Nam khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế, đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác bền chặt với Cuba – một đối tác truyền thống và lâu năm của Việt Nam.

Ba là, nâng cao trách nhiệm quốc tế và tinh thần đoàn kết giữa các quốc gia. Việt Nam và Cuba có mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, được xây dựng trên nền tảng của sự tương trợ và chia sẻ; nhất là trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ, chúng ta đã được Cuba giúp đỡ đặc biệt về chính trị, tinh thần, vũ khí, trang bị vượt trên cả thông lệ quốc tế. Ngày nay, trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với các thách thức toàn cầu về biến đổi khí hậu, việc hỗ trợ nhau phát triển năng lượng sạch là trách nhiệm không chỉ của một quốc gia mà còn là của cộng đồng quốc tế. Do đó, việc Việt Nam đóng góp kiến thức, kinh nghiệm để giúp đỡ một quốc gia khác là hành động thể hiện tinh thần trách nhiệm và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Thực tế, hành động này không chỉ phản ánh tinh thần đoàn kết, trách nhiệm quốc tế mà còn là cơ hội để Việt Nam học hỏi, nâng cao năng lực và khẳng định vị thế của mình. Những khó khăn trong nước không nên là lý do để ngăn cản Việt Nam đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Chính từ những thử thách, Việt Nam sẽ càng có thêm động lực để hoàn thiện mình và lan tỏa giá trị tích cực ra thế giới. Vì thế, quan điểm cho rằng Việt Nam không nên hỗ trợ Cuba phát triển năng lượng mặt trời vì còn nhiều vấn đề nội tại là một cái nhìn phiến diện và thiếu cơ sở./.

 

Jan 12, 2025

Bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam là không thể phủ nhận

           Tre Việt – Ngày 8/1, kênh tiếng Việt, Đài RFA đăng bài: “Đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ thứ 28: “Cần giám sát các cam kết cụ thể của Việt Nam””, trong đó đăng tải ý kiến không đáng tin cậy của một số phần tử phản động, có thâm thù với Nhà nước, chế độ về kết quả của cuộc đối thoại nhân quyền lần này.

Việt Nam luôn thúc đẩy và bảo đảm quyền con người
của người dân theo chuẩn mực quốc tế (Ảnh: minh họa)

Trước hết, cần khẳng định rằng, Đối thoại Nhân quyền Việt Nam - Hoa Kỳ là hoạt động thường niên, được chính phủ hai nước rất quan tâm, nhằm đánh giá những kết quả của mỗi bên về việc thực thi, bảo đảm nhân quyền. Tại cuộc Đối thoại Nhân quyền Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ 28 mới đây, hai bên đã thảo luận về nhiều vấn đề nhân quyền, bao gồm việc thực hiện các khuyến nghị được đưa ra trong Đánh giá Định kỳ Phổ quát (UPR) của Liên Hiệp quốc về Việt Nam và đạt được những kết quả quan trọng. Ngay sau đối thoại, phía Mỹ ra thông cáo cho biết cả hai nước cam kết tăng cường hợp tác thông qua các cuộc đối thoại và trao đổi có hiệu quả.

Bên cạnh đó, tháng 9/2024 vừa qua, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua kết quả rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam. Trong đó, Việt Nam thông báo đến Hội đồng Nhân quyền quyết định chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị các nước đưa ra tại Phiên đối thoại về báo cáo quốc gia vào tháng 5/2024, đạt tỷ lệ 84,7%, cao nhất trong 4 chu kỳ. Việt Nam tái khẳng định cam kết và chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người và sự coi trọng đối với Cơ chế UPR và Hội đồng Nhân quyền. Đồng thời, tiếp tục tăng cường khuôn khổ pháp luật về quyền con người, thông qua ban hành, sửa đổi một số văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Các tiến bộ mọi mặt của Việt Nam về hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền con người, phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và quyền các nhóm dễ bị tổn thương... đã được các đại biểu ghi nhận. Nhiều nước hoan nghênh khuyến khích những nỗ lực và thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, đặc biệt trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai. Một số tổ chức phi chính phủ nhấn mạnh đã được tạo điều kiện tham gia đóng góp vào tiến trình UPR ở Việt Nam và chia sẻ thông qua tham gia UPR đã có nhiều đề xuất của mình được Chính phủ tiếp thu, triển khai trên thực tiễn, nhất là trong bảo đảm bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ, thúc đẩy phát triển bền vững, v.v.

Thực tế đó đã minh chứng cho quan điểm, đường lối, chính sách nhất quán, đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Chính phủ cùng những thành tựu to lớn trong thực thi, bảo đảm nhân quyền của Việt Nam hoàn toàn là sự thật, không thể phủ nhận. Song, Đài RFA vẫn “lo bò trắng răng” khi đăng tải những ý kiến lo những chuyện không đâu, hoàn toàn phi lý. Việc bà Hoàng Thị Minh Hồng - người đã vi phạm pháp luật Việt Nam, bị các cơ quan chức năng kết án ba năm tù giam về tội danh “trốn thuế” liên quan đến các dự án môi trường phát biểu rằng: “... cần giám sát và hỗ trợ để Việt Nam hoàn thành các cam kết cụ thể” hay ý kiến của một người tự xưng là nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội cho rằng: “những đối thoại nhân quyền cần đi vào thiết thực hơn, có những chế tài răn đe nhất định nếu Việt Nam không thực hiện” đã cho thấy sự cố tình xuyên tạc, suy diễn tình hình nhân quyền ở Việt Nam và không đáng tin cậy./.

Jan 8, 2025

Tỉnh táo trước sự xuyên tạc, chống phá về công tác nhân sự trước thềm đại hội đảng các cấp

         “Công tác nhân sự là công việc rất quan trọng của mỗi kỳ đại hội Đảng. Công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác nhân sự phải được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, thận trọng”. Đó là kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại cuộc họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng mới đây.

Dựng chuyện, xuyên tạc - câu chuyện “bình cũ rượu mới”

Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 sẽ được tổ chức trong năm 2025. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Chuẩn bị tốt nhất về mọi mặt là yếu tố, tiền đề hết sức quan trọng để tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng (dự kiến được tổ chức vào tháng 01/2026).

Trước thềm đại hội đảng các cấp, sự chống phá của các thế lực thù địch càng quyết liệt. Chúng tập trung xuyên tạc về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự lãnh đạo của Đảng và đặc biệt là về công tác nhân sự đại hội… Đây sẽ là “điểm mấu chốt” để các thế lực thù địch, phần tử phản động câu kết chống phá trên nhiều lĩnh vực, nhất là trên không gian mạng. Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề nóng, bức xúc trong xã hội để xuyên tạc, bóp méo nhằm công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gieo rắc tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong một bộ phận quần chúng nhân dân, tập trung ở những nơi từng gây ra mất an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Tất cả sự chống phá nêu trên đều nhằm tới mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, uy tín cán bộ, nhất là cán bộ có khả năng là ứng viên cho cấp ủy khóa mới của các cấp; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguy hại hơn là đã có không ít cán bộ, người dân tin vào những thông tin và luận điệu xuyên tạc ấy.

Trên internet, mạng xã hội và một số diễn đàn, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là tuyên truyền xuyên tạc về công tác chuẩn bị đại hội. Các phần tử xấu tiếp tục dựng chuyện và quy chụp rằng “việc chuẩn bị đại hội như là hoạt động thay cho đại hội, xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội”; rằng công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ cốt cán cho Đại hội XIV là Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội XIV”. Đặc biệt, về vấn đề nhân sự, họ tự dựng lên danh sách lãnh đạo cấp cao… Họ tung hô, ngụy tạo rằng, đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng chỉ còn việc “giơ tay biểu quyết” đồng ý mà không thể có ý kiến gì khác…

Tỉnh táo, ngăn chặn sự xuyên tạc, bịa đặt

Để phòng, chống thông tin giả, tin đồn thất thiệt về công tác nhân sự trước đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng có hiệu quả, phải thực hiện tổng hợp nhiều hình thức, biện pháp bao gồm cả phòng và chống trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau ở tất các các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa phương, trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong bài phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng diễn ra tại Hà Nội vào ngày 13/3/2024, nói về nội dung “Trách nhiệm của chúng ta”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Phải xác định công tác chuẩn bị nhân sự là nhiệm vụ quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển vững mạnh của đất nước; phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã vi phạm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên nạt dưới; bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn.

Đến nay, công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng đã và đang được thực hiện tích cực, trách nhiệm, bảo đảm tiến độ ở đảng bộ các cấp, cả về nội dung các báo cáo và công tác nhân sự. Đặc biệt, ngày 14/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng (Chỉ thị số 35). Đây là văn bản hết sức quan trọng, định hướng rõ những quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu và những nội dung cơ bản chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp để các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện ở cấp mình; bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.

Chỉ thị số 35 đặt ra bẩy yêu cầu đối với công tác chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, trong đó bổ sung mới một yêu cầu nêu rõ chỉ đạo của Bộ Chính trị cần tiếp tục chấn chỉnh, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, công tác chuẩn bị nhân sự. Theo đó, công tác nhân sự cần bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp, đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao, thận trọng từng bước, làm đến đâu chắc đến đó; cần có cơ chế, tiêu chí sàng lọc hiệu quả để không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài. Quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc, đúng quy trình, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong công tác lựa chọn, giới thiệu và bầu cấp ủy các cấp. Cấp ủy nhiệm kỳ 2025 - 2030 phải đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình mới, thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Cụ thể về tiêu chuẩn cấp ủy viên nhiệm kỳ 2025 - 2030, Chỉ thị sô 35 và Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân; kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Hai là, có phẩm chất đạo đức, lối sống gương mẫu, trong sáng; thực hiện nghiêm quy định của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, giữ gìn sự đoàn kết nội bộ; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kê khai tài sản, thu nhập trung thực, minh bạch; không cơ hội, tham vọng quyền lực, cục bộ, bè phái, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”… Không để vợ hoặc chồng, con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Ba là, có năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tư duy đổi mới, tầm nhìn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả; nói đi đôi với làm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có thành tích, kết quả công tác và “sản phẩm” cụ thể trong địa bàn, lĩnh vực công tác được giao.

Công tác chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng đang được tiến hành một cách khẩn trương nhưng cũng rất chặt chẽ, chu đáo, công phu, bài bản, đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục… được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm, đánh giá cao. Trong đó, thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác nhân sự đại hội và quản lý đội ngũ cán bộ… Việc chủ động nhận diện, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch về công tác nhân sự trước thềm đại hội đảng các cấp là yêu cầu khách quan, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần vào sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng./.

(nguồn: huongsenviet.com)

Jan 3, 2025

Nhận thức đúng về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy

          Việc sắp xếp tổ chức bộ máy công quyền theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Chúng ta xác định đây là một cuộc cách mạng tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, với mưu đồ đen tối, các thế lực thù địch không ngừng gieo rắc tư tưởng phản động vào dòng chủ lưu của đất nước, nhằm xuyên tạc, kích động, chống phá…

Chủ trương đúng, quyết tâm cao

Thời gian gần đây, thông tin về việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, sắp xếp, cải cách tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả trở thành chủ đề chính, nổi bật trên tất cả các loại hình, ấn phẩm báo chí-truyền thông. Chủ đề này cũng thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của truyền thông quốc tế. Dư luận tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia có mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam đều đánh giá cao và kỳ vọng vào sự đột phá mạnh mẽ của Việt Nam trong lĩnh vực này. Nhiều chuyên gia, học giả quốc tế đã có những bài viết phân tích, đánh giá, bày tỏ tin tưởng vào quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cải cách bộ máy. Trong hoạt động đối ngoại, khi tiếp xúc với nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo cấp cao các nước, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin về chủ trương lớn này của Việt Nam, đồng thời nhận được sự quan tâm, tin tưởng của bạn bè quốc tế.

Thông qua hội nghị các cấp, các cuộc tiếp xúc cử tri, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin kịp thời, giải đáp thắc mắc, tiếp thu kiến nghị của cử tri về công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nhận được sự đồng tình, ủng hộ, thống nhất rất cao của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Các hoạt động hội thảo, tọa đàm về chủ đề này cũng được tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Giới chuyên gia, nhà lãnh đạo, nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân bày tỏ kỳ vọng lớn vào cuộc cách mạng mới của đất nước, đồng thời có nhiều hiến kế, đề xuất, kiến nghị có giá trị, sát thực tiễn, nhằm góp phần thực hiện thành công chủ trương lớn của Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Phiên họp thứ nhất
Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết việc thực hiện
Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017
 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

Có thể nói, cuộc cách mạng về cải cách tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của đất nước đã và đang nhận được sự quan tâm to lớn của nhân dân và dư luận quốc tế. Sự đồng thuận, kỳ vọng của nhân dân chính là cơ sở, nền tảng tinh thần vững chắc để Đảng, Nhà nước ta quyết tâm, quyết liệt thực hiện bằng được mục tiêu, yêu cầu đã đề ra. Trong bài viết với tựa đề “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “… Để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị…”.

Sự khẳng định tính tất yếu và quyết tâm phải làm nhanh, làm đồng bộ, chính xác, hiệu quả các bước đi, lộ trình tinh gọn bộ máy của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta cũng chính là quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Điều này khẳng định, Đảng, Nhà nước ta đã xác định đúng và trúng vấn đề. Tinh gọn bộ máy không chỉ là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn của đất nước mà còn là yêu cầu khách quan của xu thế thời đại. Việt Nam sẽ gặp nhiều rào cản, khó khăn, chậm trễ… trong hội nhập quốc tế nếu không quyết liệt tinh gọn bộ máy vốn đã và đang quá cồng kềnh hiện nay.

Thấy gì từ những luận điệu xuyên tạc, chống phá?

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc cải cách để tinh gọn, bảo đảm cho bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là một đòi hỏi tất yếu. Đây là thời điểm chín muồi, hội tụ các yếu tố cần và đủ để chúng ta thực hiện cuộc cách mạng của thời đại mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, từ dấu mốc Đại hội XIV của Đảng.

Trong lúc hệ thống chính trị các cấp đang chủ động, nỗ lực triển khai các hình thức, giải pháp sắp xếp, tinh gọn bộ máy với tinh thần Trung ương nêu gương thì không gian mạng cũng liên tục xuất hiện các sản phẩm truyền thông mang tư tưởng thù địch, đi ngược lại chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube… thời gian gần đây liên tục xuất hiện các bài viết, video clip của một số đối tượng phản động là người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những thành phần bất mãn với Tổ quốc, sống lưu vong, lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền tư tưởng phản động, xuyên tạc chống phá Đảng, chống phá đất nước.

Bám vào những thông tin về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy được đăng tải trên hệ thống báo chí, truyền thông trong nước, những đối tượng này vận dụng chiêu bài cắt ghép, xuyên tạc thông tin, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” để lèo lái, lừa bịp dư luận. Thủ đoạn của chúng là “hóng hớt” thông tin từ mạng xã hội, lắp ghép vào thông tin, hình ảnh trên báo chí chính thống trong nước để nói phải thành trái, đổi trắng thay đen. Chúng móc nối với một số đối tượng cực đoan trong nước để thực hiện những cái gọi là “trao đổi”, “phỏng vấn” với những đối tượng tự xưng, tự phong là “học giả”, “chuyên gia” để phân tích, bình luận tình hình chính trị trong nước. Chúng bám vào thông tin về việc một số đồng chí nguyên là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước bị xử lý kỷ luật, gán ghép thông tin này với lộ trình tinh gọn bộ máy để chụp mũ, quy kết chúng ta “thanh trừng nội bộ”…

Chúng ta đều hiểu rõ, cuộc cách mạng nào cũng đều phải trả giá, hy sinh. Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy, chắc chắn sẽ có một bộ phận lớn cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước… dôi dư, mất việc làm, ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống gia đình. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta rất nhân văn, giải quyết có lý, có tình nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự xáo trộn tâm lý xã hội và cuộc sống của những đối tượng bị ảnh hưởng. Bám vào thực tế này, các đối tượng phản động, thù địch liên tục, thường xuyên tung tin thất thiệt nhằm kích động, lôi kéo, cổ xúy các hành vi cực đoan gây mất ổn định chính trị và đoàn kết nội bộ. Những sản phẩm truyền thông độc hại này được chúng triệt để tận dụng mạng xã hội đăng tải, lan truyền với mức độ, cường độ ngày càng nhiều. Mục đích của chúng là gây nhiễu dư luận, gây rối nội bộ, phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị, làm lung lạc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; phá hoại cuộc cách mạng của Việt Nam trong thời đại mới…

Thống nhất nhận thức, kiên trì hành động

Yêu cầu đầu tiên và trước hết là phải tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động từ trong Đảng và hệ thống chính trị các cấp. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy không phải là việc làm “nhất thời” như các thế lực thù địch rêu rao, mà thực chất là chúng ta đã triển khai thực hiện từ lâu, trọng tâm là giai đoạn 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, kết quả đạt được theo yêu cầu đề ra vẫn còn khiêm tốn, thực tế còn tồn tại nhiều điểm nghẽn, bất cập cần khẩn trương tháo gỡ. Đảng ta đã chỉ rõ, cho đến nay, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ…

Những hạn chế, tồn tại đó là lực cản lớn, gây lãng phí, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Nguyên nhân là do chúng ta còn chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Những hạn chế, yếu kém, tồn tại đã được Đảng, Nhà nước chỉ rõ, thẳng thắn thừa nhận. Việc triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy được làm trước hết từ Trung ương đã thể hiện rõ tính nêu gương, tiền phong gương mẫu từ trên xuống.

Sự thống nhất nhận thức và hành động, trước hết, trên hết từ trong Đảng là nhân tố nòng cốt, trung tâm để tạo sự thống nhất trong cả hệ thống chính trị và toàn dân. Để có sự thống nhất, đoàn kết thực chất, bền vững, bên cạnh việc tin tưởng, ủng hộ, đồng hành với chủ trương lớn của Đảng, đòi hỏi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước phải có chính kiến, thái độ rõ ràng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng cực đoan, phản động, thế lực thù địch.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, kẻ thù của cách mạng Việt Nam là thực dân, đế quốc xâm lược và các thế lực tay sai. Cuộc cách mạng trong thời đại mới về tinh gọn bộ máy, kẻ thù của chúng ta bên cạnh các thế lực thù địch, phần tử phản động còn là cái “tôi” ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ, sự yếu kém của bản lĩnh, chủ nghĩa cá nhân. Để cách mạng thành công, phải đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, đồng thời phải đấu tranh với chính cái “tôi” tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện suy thoái chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống ngay từ nội bộ.

(nguồn: huongsenviet.com)

 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VŨ ĐỨC KHANH

           Mới đây, trên trang doithoaionline đã đăng tài bài viết của Vũ Đức Khanh với tiêu đề “Gợi mở con đường giải phóng dân tộc Việt Nam?”. Những luận điệu trong bài viết này hoàn toàn bịa đặt, hiểu sai về con đường cách mạng của đất nước, dân tộc Việt Nam. Lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đặc biệt là con đường giải phóng dân tộc, giành lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản.

Thứ nhất, cách mạng vô sản là yếu tố quyết định trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc chỉ có thể đạt được thông qua một cuộc cách mạng vô sản, nơi giai cấp công nhân và nông dân, những lực lượng bị áp bức nhất trong xã hội mới sẽ đứng lên lật đổ chế độ của các giai cấp thống trị, thay đổi hoàn toàn chế độ chính trị, tạo ra một xã hội không có bóc lột và bất công. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm ra con đường cách mạng đúng đắn – con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người đã lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), bởi theo Người: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”. Việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản, thể hiện tầm nhìn chiến lược và phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân lao động. Đến thời điểm này, cách mạng vô sản là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để nhất. Cuộc cách mạng đó không chỉ giải phóng giai cấp, mà gắn liền với nó là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Trong trường hợp của Việt Nam, cách mạng vô sản đã được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ nhất qua những chiến thắng vĩ đại của dân tộc chống lại chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Những chiến thắng vĩ đại này không chỉ là sự thay đổi chính trị mà còn là sự chiến đấu không ngừng để xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo nền tảng cho một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thứ hai, tự do ở Việt Nam không bị hạn chế bởi giáo điều Mác – Lênin. Một trong những quan điểm thường xuyên được đưa ra là tự do tại Việt Nam bị hạn chế bởi giáo điều Mác – Lênin, đặc biệt là sau khi chủ nghĩa xã hội được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, quan điểm này thiếu sự công nhận đầy đủ về những cải cách và thay đổi trong xã hội Việt Nam trong suốt hơn ba thập kỷ qua. Việc áp dụng các lý thuyết chính trị không phải là một yếu tố duy nhất quyết định mức độ tự do của người dân, mà còn phụ thuộc vào việc các lý thuyết này được thực hiện như thế nào trong thực tế. Thực tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã chứng kiến những bước tiến quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống của người dân và cải cách hệ thống chính trị. Trong giai đoạn đổi mới, đất nước đã đạt được những bước tiến ấn tượng trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Từ một nền kinh tế khép kín, bao cấp, Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế. Giai đoạn từ 1991 đến 2020, GDP của Việt Nam tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm, trong khi tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 58% xuống dưới 6%. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 224 đối tác và hơn 500 tổ chức quốc tế; đã ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương; tham gia 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 15 hiệp định đã và đang thực hiện, 2 hiệp định đang trong quá trình hoàn tất đàm phán. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia trên thế giới, trong đó có 190/193 nước thành viên của Liên hợp quốc. Việt Nam cũng đang là thành viên tin cậy, có trách nhiệm của nhiều tổ chức trong khu vực và quốc tế như: ASEAN, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB)… Trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động và đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, thế và lực của đất nước được nâng lên tầm cao mới, tạo tiền đề để Việt Nam tiếp tục đổi mới, tạo động lực đưa Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Có thể khẳng định rằng con đường giải phóng dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu của Việt Nam trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội đã khẳng định rằng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn và phù hợp với yêu cầu của thời đại. Do đó, mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch chỉ nhằm mục đích phá hoại đất nước, phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải luôn tỉnh táo và có kiến thức thực tiễn để hiểu rõ bản chất của các thế lực thù địch, phản động và tin tưởng vào con đường xây dựng và phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 (nguồn: Nhanvanviet.com)

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ HỘI Ở VIỆT NAM

           Vừa qua, trên Facebook: Đài Á châu tự do, RFA đăng bài viết: “Lo sợ cách mạng màu, Chính phủ ra Nghị định 126 bóp nghẹt hơn quyền lập hội”, với nội dung xuyên tạc rằng: Nghị định 126 “nhằm hạn chế hoạt động của xã hội dân sự”. Đây là một luận điệu sai trái, nhằm chống phá Việt Nam, cổ súy cho tự do dân chủ tư sản phương Tây, hướng lái người đọc hiểu sai về Nghị định 126/2024/NĐ-CP, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

1. Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ là sự tiếp nối và phát triển các văn bản, nghị định trước đây về tổ chức, hoạt động và quản lý hội ở Việt Nam.

Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), quyền lập hội và quyền hội họp đã được ghi rõ tại Điều 10 Hiến pháp năm 1946: “tự do tổ chức và hội họp”; đây là cơ sở quan trọng cho việc xác lập các quyền dân chủ trong nước. Quyền lập hội được tiếp tục khẳng định tại các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013; Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45, cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội đối với việc thực hiện các quyền về dân chủ của công dân, trong đó có quyền lập hội và quyền hội họp.

          Hiện nay, trước yêu cầu phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước, đặt ra phải tiếp tục xây dựng, hoàn chỉnh các quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, phù hợp với pháp luật; ngày 08/10/2024 Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2024/NĐ-CP, thay thế Nghị định số 33/2012/NĐ-CP của Chính phủ, nhằm bảo đảm chặt chẽ, tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhất để các hội phát triển và phát huy vai trò của mình trong xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghị định số 126/2024/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về số lượng tổ chức, công dân Việt Nam đăng ký tham gia thành lập hội, như: Hội hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh có ít nhất 100 tổ chức, công dân tại hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; Hội hoạt động trong phạm vi tỉnh có ít nhất 50 tổ chức, công dân tại hai đơn vị hành chính cấp huyện trở lên có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; Hội hoạt động trong phạm vi huyện có ít nhất 20 tổ chức, công dân tại hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; Hội hoạt động trong phạm vi xã có ít nhất 10 tổ chức, công dân tại đơn vị hành chính cấp xã có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội.

2. Thực tiễn việc tổ chức lập hội và hoạt động của các hội ở Việt Nam luôn phát huy dân chủ rộng rãi, phù hợp với pháp luật ở Việt Nam.

          Trong gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân, công tác tổ chức lập hội và hoạt động của các hội ở Việt Nam được phát huy rộng rãi, đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Theo Báo cáo của Bộ Nội vụ (tháng 10/2023) về tổng kết thực hiện Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, tính đến tháng 12 năm 2022, cả nước có 71.669 hội; trong đó có 587 hội hoạt động phạm vi cả nước và 71.082 hội hoạt động phạm vi địa phương. Việt Nam đang phát triển toàn diện, đã đạt mức thu nhập trung bình, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên. Nền kinh tế của đất nước liên tục tăng trưởng cao, GDP năm 2020 tăng 1,4 lần so với năm 2015; năm 2022 tăng trưởng đạt 8,02%, năm 2023 đạt 5,05%; theo dự báo năm 2024 đạt khoảng 6,8%. Việt Nam trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016; 2023 – 2025; Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách xã hội ngày càng hoàn thiện; quyền làm chủ của nhân dân, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước được phát huy mạnh mẽ.

Những minh chững trên cho thấy, Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nêu cao cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên Facebook: Đài Á châu tự do RFA, đồng thời kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái này./.

(nguồn: nhanvanviet.com)

Dec 26, 2024

“Thánh nổ” Việt Tân lại nói càn

           Tre việt – Mới đây, trong một phát biểu, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng có đề cập vấn đề cung cấp trợ lý ảo cho công chức trong quá trình làm việc. Dựa vào nội dung này, ngày 25/12, trên trang facebook Việt Tân đăng bài “Bộ trưởng lại nổ nữa rồi” có nội dung phê bình các phát biểu của ông về khả năng dẫn đầu của Việt Nam trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, triển khai mạng viễn thông 5G, v.v. Việc dùng cụm từ “thánh nổ” để ám chỉ sự phóng đại, xa rời thực tế của ông Hùng là không chính xác vì.


Trước hết, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng là nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược về công nghệ. Trong nhiệm kỳ làm Bộ trưởng, Ông đã có nhiều giải pháp tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ đẩy mạnh các chương trình, dự án về chuyển đổi số, công nghệ 5G và trí tuệ nhân tạo, thu được nhiều kết quả tích cực. Trong chuyển đổi số, Việt Nam đã thực hiện một cách toàn diện, tập trung vào ba trụ cột: chính phủ số, kinh tế số, và xã hội số. Chính phủ đã đưa ra Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nhằm thúc đẩy nền kinh tế số, dự kiến đóng góp vào nền kinh tế nước ta 20% GDP. Trên cơ sở đó, thúc đẩy chính phủ điện tử, chính phủ số, hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt, giáo dục trực tuyến; xây dựng Cổng Dịch vụ công Quốc gia năm 2019 đã cung cấp hàng trăm dịch vụ trực tuyến,… giúp tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng và giảm thời gian xử lý hồ sơ.

Với mạng 5G, Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thử nghiệm và triển khai tại khu vực Đông Nam Á. Các doanh nghiệp viễn thông lớn như Viettel, VNPT và MobiFone đã thử nghiệm mạng 5G từ năm 2020. Việt Nam đã tự sản xuất được nhiều thiết bị 5G để giảm phụ thuộc vào các nhà cung cấp quốc tế. Tập đoàn Viettel đã thử nghiệm thành công mạng 5G tại các khu vực trung tâm Hà Nội và TP.HCM, cho phép người dân trải nghiệm tốc độ internet siêu nhanh, với tốc độ đạt tới 1-2 Gbps. Điều này mở ra cơ hội cho các ứng dụng công nghệ cao như nhà thông minh, xe tự lái, và y tế từ xa.

Trí tuệ nhân tạo được coi là lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược chuyển đổi số của Việt Nam. Chính phủ đã khuyến khích nghiên cứu và phát triển AI, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm AI tại khu vực ASEAN. Các công ty công nghệ Việt Nam như FPT và VinAI đã đạt nhiều thành tựu đáng kể. Nền tảng AI của Tập đoàn FPT, đã cung cấp giải pháp xử lý giọng nói và chatbot tự động, hỗ trợ các doanh nghiệp cải thiện dịch vụ khách hàng. VinAI đã phát triển công nghệ nhận diện khuôn mặt được ứng dụng rộng rãi trong các hệ thống an ninh và dịch vụ công cộng.

Vùng với đó, ông Hùng là nhà lãnh đạo có khả năng truyền cảm hứng và động lực cho cộng đồng. Trong thời đại toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt, một quốc gia cần những nhà lãnh đạo dám nghĩ lớn và hành động quyết liệt. Trong đó, việc truyền cảm hứng và thúc đẩy lòng tin của cộng đồng là yếu tố quan trọng. Những phát biểu táo bạo của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng là cách Ông tạo động lực cho doanh nghiệp và xã hội Việt Nam. Ông không ngần ngại nói về khát vọng lớn, điều này không đồng nghĩa với “nói khoác”, mà là sự khích lệ một quốc gia còn nhiều tiềm năng nhưng đôi khi thiếu tự tin. Lịch sử cho thấy, những nhà lãnh đạo thành công thường là những người dám mơ lớn và hành động để biến ước mơ thành hiện thực. Ví dụ, năm 1988, khi mới thành lập, ông Trương Gia Bình đã ấp ủ giấc mơ đưa FPT trở thành tập đoàn công nghệ hàng đầu Việt Nam và vươn ra thế giới. Trong một thời điểm mà công nghệ thông tin còn khá xa lạ tại Việt Nam, ông Bình đã nhìn thấy tiềm năng và sức mạnh của công nghệ trong việc thay đổi xã hội và nền kinh tế. Ông đã định hướng FPT trở thành doanh nghiệp dẫn đầu trong cuộc cách mạng chuyển đổi số; xem đây là cơ hội phát triển của doanh nghiệp, là trách nhiệm với quốc gia. Cho tới hôm nay, doanh nghiệp này đã có trên 30.000 nhân viên và thàng trăm chi nhánh trên thế giới, năm 2023, doanh thu là 52.617 tỷ đồng, lợi nhuận là 7.788 tỷ đồng, đóng thuế cho Nhà nước là 1.415 tỷ đồng, là doanh nghiệp lớn thứ 3 của Việt Nam.

Những thành tựu mà ngành công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng là minh chứng cho thấy Ông là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn và khả năng thực thi, không phải là người “nói khoác mạnh mẽ”. Và, phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng là từ thực tiễn, hoàn toàn vì sự phát triển của đất nước, đâu phải “thánh nổ” như Việt Tân – những kẻ chuyên “bới móc”, nói càn, hại dân, hại nước./.


Dec 24, 2024

Kiểm định xe máy là đang ủng hộ xe máy điện của VinFast?

          Tre Việt - Trong thời gian gần đây, việc đề xuất kiểm định định kỳ xe máy gây ra nhiều tranh luận trong dư luận. Cùng với đó là việc Công ty cổ phần VinDT của tỷ phú Phạm Nhật Vượng ra mắt trung tâm đào tạo, sát hạch lái xe thì trên trang facebook của Việt Tân có ý kiến cho rằng, quy định kiểm định này nhằm “ủng hộ xe máy điện của VinFast”, vì xe máy điện không phải kiểm định khí thải. Khi phân tích kỹ quan điểm này, không có đủ căn cứ thực tế, logic và có nguy cơ tạo hiểu lầm về chính sách.

Để làm rõ, trước hết, ta cần hiểu rằng, xe máy sử dụng động cơ xăng, nhất là các xe cũ, thường thải ra lượng lớn khí độc hại như CO, NO2, SO2 và bụi mịn, rất có hại cho cơ quan hô hấp của con người. Việc kiểm định xe máy, đặc biệt là kiểm tra khí thải, sẽ giúp loại bỏ khỏi lưu thông những phương tiện không đạt tiêu chuẩn nhằm mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm không khí, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, kiểm định còn giúp phát hiện các hệ thống, bộ phận không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, như: phanh, đèn, lốp xe,... sẽ giảm nguy cơ tai nạn. Đây là một chính sách phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhằm đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông. Như vậy, việc kiểm định không phải để hướng đến thúc đẩy bất kỳ sản phẩm cụ thể nào mà tập trung vào lợi ích cộng đồng, bao gồm môi trường và an toàn giao thông.

Hiện nay và trong những năm tới, do không phải kiểm định, không bị chế tài hạn chế nên xe điện có tiềm năng phát triển tốt hơn. Nhưng việc hưởng lợi là bình đẳng cho mọi đối tượng; xe máy điện VinFast không phải là đối tượng duy nhất; xe máy điện từ các thương hiệu khác, cả trong nước và quốc tế, như: Pega, Dat bike, Osakar,… cũng được hưởng lợi từ các chính sách khuyến khích giảm khí thải. VinFast, với tư cách là doanh nghiệp sản xuất xe điện lớn tại Việt Nam, có sự hiện diện mạnh mẽ, nhưng các chính sách khuyến khích xe điện không nhằm mục tiêu thúc đẩy riêng họ mà tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả các hãng xe. Nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đang chuyển dần sang phương tiện thân thiện với môi trường như xe điện. Đây là xu hướng không thể đảo ngược nhằm giảm ô nhiễm và bảo vệ trái đất, không chỉ riêng VinFast mà tất cả các hãng xe điện đều được hưởng lợi từ chính sách này.

Quan điểm “kiểm định xe máy là để ủng hộ xe máy điện của VinFast” không có đủ căn cứ và mang tính suy diễn, không chính xác. Điều đó có thể khiến người dân hiểu lầm rằng: kiểm định xe máy không vì lợi ích cộng đồng, mà phục vụ lợi ích kinh tế cho một doanh nghiệp. Điều này làm suy giảm niềm tin của người dân vào chính sách của Nhà nước. Quan điểm sai lệch này có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực đối với chính sách giảm khí thải, làm chậm quá trình chuyển đổi sang phương tiện sạch và bền vững hơn, gây hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Do đó, Người dân cần tiếp cận thông tin từ các nguồn đáng tin cậy, tránh hiểu lầm và lan truyền thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách của Nhà nước./.

Không thể bóp méo việc sắp xếp, tinh giản bộ máy của Đảng, Nhà nước ta

           Tre Việt - Lợi dụng việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết tâm đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về việc “Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc cho rằng: “... là cơ hội để các phe phái chính trị tái bố trí nhân sự theo hướng có lợi cho họ”. 

         Đây là luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật, gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận, chống phá chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:

Thứ nhất, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác cán bộ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Quán triệt, vận dụng tư tưởng đó, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Trong các văn kiện của Đảng đã xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả, xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, mà Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) là minh chứng điển hình.

Thứ hai, thực tiễn qua các giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đổi mới công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Những năm gần đây, việc tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã được Đảng, Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ và thu được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, như: tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh; hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhiều cơ quan, bộ phận còn trùng lắp, chồng chéo; việc tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng chưa gắn với nâng cao chất lượng; ngân sách chi vận hành bộ máy còn quá lớn (chiếm tới 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước), v.v. Đây là nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội, giảm nguồn lực đầu tư cho phát triển. Do đó, những hạn chế, bất cập này nếu không giải quyết triệt để sẽ là lực cản kìm hãm quá trình đổi mới, phát triển đất nước.

Thứ ba, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” không phải là chủ trương mới của Đảng, mà là phương thức tiến hành mới trên cơ sở tổng kết, kế thừa, bổ sung, phát triển quan điểm của các kỳ Đại hội Đảng trước đây cho phù hợp với thực tiễn sự phát triểnnhằm thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, ưu tiên nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Như vậy, hoàn toàn không có chuyện Đảng, Nhà nước ta quyết tâm đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “là cơ hội để các phe phái chính trị tái bố trí nhân sự theo hướng có lợi cho họ” như các thế lực thù địch, phản động đang rêu rao./.

 

 

 

VOA Tiếng Việt diễn trò xuyên tạc Nghị định số 126/2024/NĐ-CP

          Tre Việt – Ngày 24/12, trang facebook VOA Tiếng Việt đăng bài: “Giới hoạt động: Nghị định 126 về lập hội là “điểm nghẽn thể chế” cần loại bỏ”, lu loa rằng: “Nghị định 126/2024 về quản lý lập hội là một văn bản luật thể hiện rõ nhất “điểm nghẽn” trong thể chế chính trị của chính quyền cộng sản Việt Nam, đồng thời khuyến cáo Hà Nội phải ngay lập thay đổi để phù hợp với thông lệ quốc tế”.

Cần khẳng định, đây là luận điệu cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm chống phá Đảng, chính quyền, gây ra sự hiểu lầm, hoài nghi trong nhân dân về việc bảo đảm, bảo vệ và thực thi quyền lập hội tại Việt Nam.

Chúng ta đã biết, ngày 08/10/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2024/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý hội thay thế Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP. Nghị định số 126/2024/NĐ-CP gồm 08 chương, 53 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/11/2024.  

So với Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, quy định mới trong Nghị định số 126/2024/NĐ-CP đã nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong việc quản lý và hoạt động của các hội tại Việt Nam; đồng thời, quy định chi tiết các nội dung về thành lập, tổ chức hoạt động hội nhằm đảm bảo các tổ chức, cá nhân sẽ thành lập và hoạt động hội phù hợp với quy định của pháp luật, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. Điều đó được thể hiện trên một số điểm nổi bật đó là: Về đối tượng áp dụng, Nghị định số 126 áp dụng đối với tổ chức, công dân Việt Nam có liên quan đến thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về hội. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về tổ chức, hoạt động của hội khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của pháp luật chuyên ngành đó. Nghị định này sẽ không áp dụng với các tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam; các tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng; tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động. Việc thành lập hội, từ ngày 26/11/2024 phải đảm bảo các điều kiện như: tên gọi; lĩnh vực hoạt động chính không trùng lặp với lĩnh vực hoạt động chính của hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trong cùng phạm vi hoạt động; có tôn chỉ, mục đích, lĩnh vực hoạt động phù hợp quy định pháp luật; có điều lệ, có trụ sở, có đủ số lượng tổ chức, công dân Việt Nam đăng ký tham gia thành lập hội (trừ trường hợp luật, pháp lệnh có quy định khác), có tài sản để đảm bảo hoạt động của hội. Về cơ sở dữ liệu về hội: Nghị định mới có riêng một điều quy định về cơ sở dữ liệu về Hội phục vụ cho công tác quản lý nhà nước mà Nghị định 45/2010/NĐ-CP chưa quy định. Bên cạnh đó, tổ chức, công dân Việt Nam có nhu cầu thành lập hội phải thành lập ban vận động thành lập hội. Thành viên ban vận động thành lập hội là tổ chức, công dân Việt Nam tâm huyết, trách nhiệm, hoạt động trong lĩnh vực hội dự kiến hoạt động hoặc có liên quan đến lĩnh vực hội dự kiến hoạt động. Các thành viên ban vận động thành lập hội phải đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Nghị định. Về thời gian đại hội thành lập là 60 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định. Quá thời hạn 60 ngày làm việc mà ban vận động thành lập hội chưa chuẩn bị kịp để tiến hành tổ chức đại hội thành lập, thì trong thời gian 15 ngày làm việc tính từ ngày hết thời hạn 60 ngày làm việc, ban vận động thành lập hội chủ động có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị gia hạn. Quy định về các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, Nghị định dành một chương để quy định về các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Tại Nghị định này đã bỏ tên gọi hội có tính chất đặc thù và thay vào đó là hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Một trong những điểm nổi bật của chương này là đã có quy định về chính sách, chế độ đối với người làm việc tại hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Về thẩm quyền giải quyết các thủ tục về hội, Nghị định số 126 quy định cụ thể về điều khoản phân cấp thành lập và quản lý hội cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Nghị định số 126 cũng quy định một cách cụ thể trách nhiệm của từng bộ, ngành có liên quan, không còn quy định trách nhiệm chung chung như Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, v.v.

Như vậy, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 126 là hết sức cần thiết, đã giải quyết được những vấn đề bất cập phát sinh trong thực tiễn khi thực hiện công tác quản lý nhà nước về hội; kịp thời thể chế các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng về hội, cũng như giải quyết được những vấn đề không thống nhất giữa quy định của Đảng và quy định của pháp luật về quản lý hội. Dó đó, luận điệu xuyên tạc rằng: “Nghị định 126/2024 về quản lý lập hội là một văn bản luật thể hiện rõ nhất “điểm nghẽn” trong thể chế chính trị” mà VOA Tiếng Việt lu loa cần bị lên án và đấu tranh bác bỏ./.