Aug 7, 2025

Tinh giản bộ máy hành chính là phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam

           Trên trang “Saigonnhonew” Minh Hải đã đăng tải bài viết với tựa đề “Chia vùng cài cắm người, chóp bu CSVN chuẩn bị quyết đấu”. Trong bài viết, Minh Hải đã đưa ra một số luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận những thành tựu đổi mới của đất nước, gieo rắc sự hoài nghi trong dư luận và bóp méo chủ trương tinh gọn bộ máy hành chính của Đảng và Nhà nước ta.

Một là, xuyên tạc, vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ trương tinh giản bộ máy hành chính với mục đích “cơ cấu lại quyền lực địa phương để tập trung quyền lực ở Trung ương”. Đây là luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận những nỗ lực cải cách hành chính, gieo rắc tư tưởng nghi ngờ, kích động tâm lý phản đối chính sách, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cần khẳng định rằng, tinh giản bộ máy hành chính, tái cơ cấu chính quyền địa phương hai cấp là một quá trình tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển của quản trị hiện đại. Nó hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, xóa bỏ sự chồng chéo và tăng cường tính chuyên nghiệp. Mục đích cốt lõi là phục vụ người dân tốt hơn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, chứ không phải nhằm mục đích để “tập trung quyền lực” về Trung ương.

Thực tế cho thấy, một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, kém hiệu quả sẽ làm chậm quá trình ra quyết định, gây lãng phí nguồn lực và tạo ra những rào cản không cần thiết cho sự phát triển. Tinh giản bộ máy nhằm loại bỏ những khâu trung gian, chồng chéo, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà, qua đó nâng cao năng lực điều hành của các cơ quan nhà nước. Điều này giúp đẩy nhanh tiến độ triển khai các chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, đưa các chủ trương lớn đi vào cuộc sống một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Việc tinh giản bộ máy, giảm bớt các khâu trung gian, thay vì làm suy yếu chính quyền địa phương, lại giúp các địa phương chủ động hơn trong việc đưa ra các quyết sách phù hợp với đặc thù và tiềm năng của mình. Quyền lực không hề bị “thu về Trung ương” một cách cứng nhắc, mà được tổ chức lại một cách khoa học hơn để tạo điều kiện cho địa phương phát huy tối đa nội lực.

Hai là, quy chụp, vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam đang lợi dụng việc tinh giản bộ máy hành chính để phân chia phe nhóm, chuẩn bị địa bàn, tạo mâu thuẫn quyền lực để “chia ghế tại đại hội XIV”. Luận điệu này phản ánh một tư duy thiển cận, cố tình bóp méo, xuyên tạc quy trình nhân sự của Đảng, đánh đồng cải cách hành chính với tranh giành nội bộ, phớt lờ những lợi ích lớn lao mà tinh giản bộ máy mang lại.

Có thể khẳng định, việc tinh giản bộ máy hành chính là một chủ trương lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua, không phải là vấn đề mới xuất hiện hay chỉ dành cho một kỳ đại hội cụ thể. Chủ trương này ra đời từ yêu cầu khách quan của thực tiễn, nhằm khắc phục tình trạng cồng kềnh, kém hiệu quả, chồng chéo chức năng nhiệm vụ, tệ nạn quan liêu, tham nhũng trong bộ máy. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và phát triển bền vững, đồng thời hướng tới xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ tốt nhất lợi ích của nhân dân và doanh nghiệp.

Nếu chỉ là “chia ghế”, tại sao Đảng và Nhà nước phải dày công xây dựng, ban hành hàng loạt nghị quyết, chỉ thị, đề án chi tiết về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy? Tại sao phải tiến hành đánh giá, sàng lọc, luân chuyển cán bộ một cách khoa học, dựa trên tiêu chí năng lực, phẩm chất, hiệu quả công tác? Những quy trình này đều được thực hiện công khai, minh bạch, có sự giám sát chặt chẽ từ nhân dân và các tổ chức chính trị xã hội. Việc sáp nhập một số cơ quan Trung ương, tỉnh, xã, giải thể cấp quận, huyện hay điều chuyển cán bộ đều tuân thủ các nguyên tắc, quy định chặt chẽ, hướng đến mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, chứ không phải để tạo ra “địa bàn” cho bất kỳ phe nhóm nào.

Hơn nữa, quy trình chuẩn bị nhân sự cho các Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội toàn quốc, là một quy trình chặt chẽ, dân chủ, công khai và minh bạch, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng. Việc lựa chọn cán bộ dựa trên năng lực, phẩm chất, uy tín và sự tín nhiệm của tập thể, chứ không phải là sự “chia chác” vị trí. Quá trình này diễn ra từ cơ sở, qua nhiều vòng hiệp thương, lấy ý kiến rộng rãi trong toàn Đảng và nhân dân, đảm bảo sự lựa chọn những cán bộ đủ tiêu chuẩn, đủ đức, đủ tài gánh vác trọng trách. Do đó, việc gắn tinh giản bộ máy với “chia ghế” là hoàn toàn vô lý, nhằm hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào công tác cán bộ của Đảng.

Tóm lại, chủ trương tinh giản bộ máy hành chính của Đảng là một quyết sách đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân. Đây là một bước đi quan trọng để củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Những luận điệu xuyên tạc như “tập trung quyền lực ở Trung ương”, “chia ghế”, “chia phe nhóm” hay “chuẩn bị điạ bàn” thực chất cũng chỉ là những chiêu trò cũ rích. Vì vậy, mỗi chúng ta cần hết sức cảnh giác, không để những thông tin độc hại này đầu độc tư tưởng và làm lung lay ý chí./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Luận điệu xằng bậy về tham nhũng của Trần Khánh Ân

           Trên “Thongluan”, Trần Khánh Ân - một phần tử cơ hội chính trị, phản động đưa ra luận điệu vu cáo rằng: “Tham nhũng ở Việt Nam không phải là hành vi bất thường mà là cơ chế vận hành quyền lực thực tế. Một người không thể lên làm lãnh đạo nếu không tham nhũng, và khi đã lên rồi thì phải tham nhũng để duy trì quyền lực. Sự suy thoái đạo đức trong bộ máy không còn thuốc chữa, vì bản thân chế độ là người sản sinh và bảo vệ nó”. Đây không chỉ là luận điệu xuyên tạc trắng trợn, xúc phạm hàng triệu cán bộ, đảng viên đang ngày đêm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, mà còn hàm chứa ý đồ đen tối: Phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp tính chính danh của Nhà nước, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

1. Xuyên tạc bản chất để phủ định chế độ - thủ đoạn không mới

Trần Khánh Ân không phải người đầu tiên sử dụng thủ đoạn lợi dụng vấn đề tham nhũng để bôi nhọ chế độ. Những kẻ mang danh “đấu tranh dân chủ” nhưng thực chất là tay sai của các thế lực phản động thường cố tình đánh tráo khái niệm: Biến hiện tượng cá biệt thành bản chất phổ biến, lấy cái sai của một bộ phận cán bộ để quy chụp toàn bộ hệ thống, từ đó cổ vũ tâm lý bất mãn, gieo rắc hoài nghi, xói mòn niềm tin vào Đảng và Nhà nước.

Thực tế, tham nhũng là hiện tượng xã hội, không riêng gì Việt Nam. Ngay cả các quốc gia phát triển, có hệ thống luật pháp nghiêm ngặt như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản,… vẫn xảy ra những vụ bê bối tham nhũng nghiêm trọng. Nhưng điều quan trọng là: Đảng Cộng sản Việt Nam không bao che, không né tránh, mà luôn kiên quyết đấu tranh, xem đây là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của chế độ, cần phải bị loại bỏ triệt để.

2. Phòng, chống tham nhũng là minh chứng cho bản lĩnh chính trị và sự trưởng thành của Đảng

Trái ngược với luận điệu cho rằng “tham nhũng là điều kiện để tồn tại quyền lực”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một cách kiên quyết, toàn diện, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do nguyên cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nay là Tổng Bí thư Tô Lâm đứng đầu đã chỉ đạo điều tra, xử lý hàng loạt vụ án lớn liên quan đến cán bộ cấp cao – kể cả Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng, tướng lĩnh công an, quân đội… Chẳng có một chế độ nào “bảo vệ tham nhũng” mà lại tổ chức xử lý chính các “tư lệnh” ngành, các cán bộ cao cấp một cách công khai, quyết liệt như vậy. Điều đó cho thấy quyết tâm “tự chỉnh đốn”, làm trong sạch bộ máy của Đảng, chứ không như lời Trần Khánh Ân rêu rao rằng “chế độ bảo vệ tham nhũng”.

Xử lý nghiêm minh các sai phạm chính là bằng chứng sống động cho năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đây không phải là hành động nhất thời, đối phó, mà là chủ trương chiến lược, bài bản, có hệ thống. Tính đến năm 2024, hàng nghìn vụ án tham nhũng đã bị phát hiện, điều tra, truy tố; hàng ngàn cán bộ đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có không ít cán bộ cấp cao. Hàng chục ngàn tỷ đồng bị chiếm đoạt đã được thu hồi. Cùng với đó, hàng loạt cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ Đảng và hệ thống hành chính được hoàn thiện, nhằm phòng ngừa từ gốc.

Người dân đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ chiến dịch “đốt lò”, coi đó là biểu hiện rõ ràng của một Đảng cầm quyền biết tự soi, tự sửa, luôn đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết. Trên bình diện quốc tế, các tổ chức như Liên hợp quốc, Minh bạch Quốc tế, Ngân hàng Thế giới… đều ghi nhận những tiến bộ của Việt Nam trong cải thiện chỉ số cảm nhận tham nhũng, nâng cao hiệu quả quản trị công, minh bạch ngân sách, trách nhiệm giải trình.

3. Không thể lấy số ít cá biệt để phủ định cả một đội ngũ cán bộ đảng viên tận tâm, tận lực cống hiến vì dân, vì nước

Trong hàng triệu cán bộ, đảng viên, phần lớn vẫn giữ vững đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy vì dân, vì nước. Họ là những chiến sĩ biên phòng ngày đêm bám trụ biên giới, những bác sĩ xông pha nơi tuyến đầu chống dịch, những cán bộ xã, huyện âm thầm phục vụ nhân dân. Họ không hề “phải tham nhũng để duy trì quyền lực” như Trần Khánh Ân bịa đặt. Chính vì vậy, việc quy chụp tất cả lãnh đạo đều tham nhũng là sự xúc phạm, là cái nhìn cay độc và phản động. Đó không phải là phê phán có trách nhiệm mà là sự tấn công có chủ đích, nhằm gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ Đảng với nhân dân, cuối cùng là thay đổi thể chế, chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo tư bản phương Tây; cố tình lợi dụng các sự kiện tiêu cực, phóng đại sự thật, kích động tâm lý bất mãn trong nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên. Nếu không tỉnh táo, dễ bị cuốn vào vòng xoáy hoài nghi, phủ nhận thành tựu, xa rời lý tưởng cách mạng.

Như vậy, cần khẳng định: tham nhũng là hiện tượng nguy hiểm, là “giặc nội xâm” cần phải đấu tranh không khoan nhượng; tham nhũng là bệnh cần chữa, không phải “cơ chế” vận hành. Đảng Cộng sản Việt Nam không sinh ra tham nhũng, mà đang là lực lượng tiên phong đấu tranh quyết liệt, hiệu quả nhất để quét sạch nó khỏi đời sống chính trị - xã hội. Do đó, luận điệu sai trái của Trần Khánh Ân là sản phẩm của tâm địa phản động chứ không phải của tinh thần phản biện mang tính xây dựng. Mỗi cán bộ, đảng viên, người dân cần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh phản bác, bảo vệ vững chắc niềm tin vào Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa mà toàn dân tộc ta đã lựa chọn./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Jul 30, 2025

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đứng sau những tổ chức “xã hội dân sự”

         “Xã hội dân sự” (civil society) là khái niệm phổ biến ở phương Tây, được hiểu là tổng thể các tổ chức, hội nhóm độc lập với Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện và phi lợi nhuận. Trên thế giới, nhiều tổ chức “xã hội dân sự” đã góp phần kiểm soát quyền lực, thúc đẩy dân chủ. Tuy nhiên, cũng không ít trường hợp các tổ chức này bị lợi dụng để tạo ra các lực lượng đối lập, kích động bạo loạn, lật đổ chính quyền.

Trong vài thập kỷ gần đây, hiện tượng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” đã xuất hiện ở nhiều quốc gia như Gruzia, Ukraine, Ai Cập, Tunisia,… với sự tham gia, tiếp tay của các tổ chức núp danh “xã hội dân sự”. Bản chất các phong trào này là hình thức đấu tranh bất bạo động do các thế lực thù địch hậu thuẫn nhằm thay đổi thể chế chính trị.

Tại Việt Nam, từ sau đổi mới (1986), nhiều hội nhóm phi chính phủ, xã hội - nghề nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp, góp phần vào công cuộc phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những tổ chức tích cực, cũng xuất hiện không ít hội, nhóm núp bóng “xã hội dân sự” nhưng thực chất là công cụ để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Có thể nhận diện một số âm mưu, thủ đoạn chính đứng sau những tổ chức “xã hội dân sự” của các thế lực thù địch, phản động như sau:

Thứ nhất, lợi dụng các tổ chức “xã hội dân sự” để gây sức ép về dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Chúng tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền con người, yêu cầu ban hành các “đạo luật”, “nghị quyết” và các văn bản về nhân quyền để tạo “cơ sở pháp lý” cho các hoạt động chống phá; lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra của một bộ phận cán bộ, đảng viên để thổi phồng, cường điệu hóa những khuyết điểm, hạn chế của ta từ đó “hạ bệ” uy tín của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “xã hội dân sự” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thứ hai, kết hợp với các thế lực bên ngoài để xâm nhập, tác động, chuyển hóa chính trị. Để thực hiện âm mưu trên, chúng triển khai nhiều dự án tài trợ, các tổ chức phi chính phủ (Non Governmental Organization - NGO) ở nước ngoài để tìm cách triển khai tổ chức hội thảo, xuất bản, phát hành tài liệu, văn bản luật nước ngoài công khai. Nhất là sau khi Bộ Công an công bố “Việt Tân” là tổ chức khủng bố, để tiếp tục phát triển lực lượng trong nước, RISE - tổ chức ngoại vi của tổ chức phản động lưu vong ra đời hoạt động dưới vỏ bọc NGO theo mô hình tổ chức “xã hội dân sự”, dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường, nhu cầu dân sinh để kích động bạo loạn, biểu tình trong nước; huấn luyện đào tạo các hội nhóm, cá nhân người Việt trong, ngoài nước nhằm gây dựng, tập hợp lực lượng đối lập để hạ thấp vai trò, uy tín của các tổ chức chính trị - xã hội trong nước, đề cao vai trò của tổ chức “xã hội dân sự” trong các hoạt động từ thiện, nhân đạo nhằm thu hút sự ủng hộ tham gia của người dân.

Thứ ba, thành lập các diễn đàn “xã hội dân sự” trên không gian mạng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta và tập hợp lực lượng chống đối. Trên các diễn đàn “xã hội dân sự”, hiện nay chúng tập trung kêu gọi đòi quyền tự do ngôn luận, báo chí, đặc biệt là tự do Internet, mạng xã hội. Đặc biệt, núp dưới danh nghĩa “phản biện xã hội”, “đóng góp ý kiến” chúng còn liên kết chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự” bên ngoài kêu gọi hình thành, phát triển lực lượng, chủ yếu tập trung vào giới trí thức, sinh viên, số cực đoan tôn giáo và cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy hình thành tổ chức “Công đoàn độc lập” bất hợp pháp theo xu hướng tự do, thoát ly Đảng, Nhà nước. Bản chất đó là thủ đoạn chính trị của các thế lực thù địch hòng kích động hận thù dân tộc; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận thành quả cách mạng, bôi nhọ lãnh đạo; chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; phá hoại quan hệ quốc tế của Nhà nước ta.

Thứ tư, tuyệt đối hóa tính độc lập tương đối của “xã hội dân sự” nhằm từng bước đối lập với Đảng, Nhà nước để thực hiện các cuộc “Cách mạng màu”. Dưới sự chống lưng của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài kết hợp với các tổ chức phản động trong nước trực tiếp tiến hành thông qua các phương tiện thông tin, truyền thông để tạo ra các chấn động xã hội, tác động mạnh đến nhận thức của người dân, từ đó lôi kéo, tổ chức biểu tình chống phá chính quyền; khi biểu tình lan rộng thu hút nhiều người tham gia chúng sẽ chuyển từ phương thức đấu tranh “bất bạo động”, ôn hòa sang phương thức “bạo động”, lật đổ chính quyền; gây mất ổn định chính trị, tiến tới thay đổi chế độ nước ta.

Trước tình hình phức tạp trên không gian mạng cùng các hoạt động chống phá có tổ chức của các thế lực thù địch, phản động, cần triển khai một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nhận thức đúng về “xã hội dân sự” cần làm rõ bản chất, giới hạn và các hình thức lợi dụng “xã hội dân sự” của các thế lực thù địch. Đặc biệt, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế giám sát Đảng, Nhà nước cần ban hành các quy định rõ ràng về việc thành lập, hoạt động và giám sát các tổ chức ngoài nhà nước.

Thứ ba, đẩy mạnh đấu tranh truyền thông, huy động lực lượng báo chí, truyền thông chính thống, đặc biệt là trên không gian mạng để phản bác các luận điệu sai trái

Thứ tư, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, tăng cường nắm chắc tình hình hoạt động của các tổ chức hội, nhóm để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Hiện nay “xã hội dân sự” không phải là vấn đề mới, tuy nhiên nó đang có xu hướng phát triển gia tăng tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị của đất nước, là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm thực hiện hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, phải nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện âm mưu, thủ đoạn đứng sau các hội, nhóm, mang màu sắc “xã hội dân sự”; cần có sự tham gia tích cực, chủ động của toàn Đảng, toàn dân, ở tất cả các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang trong việc đấu tranh ngăn chặn hoạt động lợi dụng các tổ chức “xã hội dân sự” để chống phá Đảng, Nhà nước ta./.

 (Trích nguồn: Huongsenviet.com)

Jul 29, 2025

Không thể xuyên tạc vai trò của Quân đội trong cứu hộ, cứu nạn

 

Trên trang “Danchimviet”, Dân Trần cho rằng: “Quân đội dùng trực thăng chỉ để biểu diễn, lúc dân cần thì chẳng thấy đâu; bộ đội thì tay không bắt giặc, trang bị thô sơ, thiếu thốn đến mức chẳng thể cứu người, thậm chí còn không tự bảo vệ được mình thì làm sao bảo vệ dân, bảo vệ đất nước”. Đây là luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất, phủ nhận vai trò, uy tín, sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời, gieo rắc tâm lý hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trước những luận điệu nguy hiểm đó, cần thiết phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ; cần khẳng định rõ sự thật về năng lực, bản lĩnh, trang bị và tinh thần sẵn sàng hy sinh của người lính Cụ Hồ trong mọi tình huống, từ phòng, chống thiên tai đến bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

1. Những luận điệu xuyên tạc phi lý, vô căn cứ, cố tình kích động của Dân Trần. Trước hết, cần khẳng định, Dân Trần đã cố tình cắt, ghép một vài hình ảnh mang tính cá biệt, không phản ánh đầy đủ thực tiễn để quy chụp, bôi nhọ toàn bộ lực lượng Quân đội. Do đó, cần đặt câu hỏi ngược lại: Nếu đúng như y nói, tại sao suốt bao năm qua, mỗi khi thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, sự cố sập hầm, sập nhà, tai nạn giao thông đường thủy, đường bộ… xảy ra, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng đầu tiên có mặt tại hiện trường, sẵn sàng lao vào nơi nguy hiểm nhất để cứu dân? Tại sao, trong những đợt thiên tai thảm khốc nhất như: Cơn bão số 12 năm 2017, trận lũ lụt miền Trung năm 2020, sạt lở đất kinh hoàng ở Rào Trăng 3 (Thừa Thiên Huế), trận bão Yagi (9/2024),… những người lính “Bộ đội Cụ Hồ” với trang bị thô sơ như cuốc, xẻng, dây thừng, mũ cối ấy lại là những người đào bới, tìm kiếm nạn nhân, bất chấp hiểm nguy?

Thực chất, Dân Trần đã cố tình lẫn lộn giữa tính chất của nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn với hoạt động tác chiến, chiến đấu, rồi từ đó xuyên tạc, hạ thấp uy tín Quân đội nhân dân Việt Nam. Y cho rằng trang bị cứu hộ sơ sài là bằng chứng cho thấy quân đội yếu kém, không đủ năng lực ứng phó khi đất nước có chiến tranh. Đây là sự so sánh khập khiễng, phản khoa học và thể hiện rõ bản chất chống phá, phá hoại niềm tin của nhân dân vào lực lượng vũ trang cách mạng.

2. Năng lực, trang bị và tinh thần sẵn sàng cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam là không thể phủ nhận. Thực tiễn cho thấy, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, với đầy đủ các thành phần quân, binh chủng hợp thành. Trong đó, các lực lượng cứu hộ, cứu nạn là bộ phận chuyên trách, luôn được huấn luyện, trang bị phù hợp với điều kiện, địa bàn và đặc thù nhiệm vụ.

Về phương tiện, trang bị, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay được đầu tư nhiều phương tiện hiện đại phục vụ cứu hộ, cứu nạn như máy bay trực thăng, tàu cứu hộ đa năng, xe chuyên dụng, xuồng cao tốc, thiết bị lặn, thiết bị định vị, thiết bị dò tìm nạn nhân trong đống đổ nát, hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến, v.v. Tuy nhiên, việc sử dụng phương tiện hiện đại như trực thăng phải tuân theo nguyên tắc, quy trình chặt chẽ, căn cứ vào tình hình thực tế, điều kiện thời tiết, địa hình, địa bàn xảy ra sự cố. Không thể ngụy biện rằng cứ mỗi khi có thiên tai là trực thăng phải lập tức xuất hiện, bất chấp thời tiết xấu, gió lớn, bão mạnh – điều này không chỉ nguy hiểm cho phi hành đoàn mà còn có thể gây tai nạn, tổn thất nặng nề hơn.

Đáng chú ý, theo báo cáo của Bộ Quốc phòng, từ năm 2016 đến nay, không quân Việt Nam đã triển khai hàng trăm chuyến bay trực thăng phục vụ cứu hộ, cứu nạn, vận chuyển hàng hóa, nhu yếu phẩm tới các vùng bị cô lập do thiên tai. Điển hình như trong đợt mưa lũ lịch sử tại miền Trung tháng 10/2020, các đơn vị không quân đã huy động trực thăng vận chuyển hàng trăm tấn hàng cứu trợ, đưa lực lượng và nhu yếu phẩm tiếp cận những khu vực bị chia cắt hoàn toàn. Nói như vậy để thấy rằng, luận điệu “trực thăng chỉ để biểu diễn” của Dân Trần là hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc, phủ nhận nỗ lực không biết mệt mỏi của bộ đội.

Về trang bị cá nhân của lực lượng cứu hộ, tùy theo từng nhiệm vụ cụ thể, điều kiện địa hình, khí hậu mà bộ đội sử dụng các phương tiện, công cụ phù hợp. Việc bộ đội dùng cuốc, xẻng, cưa, búa, dây thừng trong các tình huống tìm kiếm, cứu hộ không phản ánh sự thiếu thốn, mà là sự linh hoạt, phù hợp với điều kiện địa hình phức tạp như đồi núi, rừng sâu, nơi xe cơ giới hoặc phương tiện lớn khó tiếp cận. Chính nhờ sự dũng cảm, tận tụy, linh hoạt đó mà hàng nghìn người dân bị mắc kẹt, gặp nạn đã được cứu sống qua các đợt thiên tai, sự cố nghiêm trọng trong thời gian qua.

Tóm lại, dù trong thời chiến hay thời bình, dù phải đối mặt với thiên tai khốc liệt hay âm mưu phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Những hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong cứu hộ, cứu nạn đã khẳng định rõ bản lĩnh, năng lực và tinh thần “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần kiên quyết vạch trần, phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, giữ vững niềm tin sắt son vào lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam - lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jul 25, 2025

“FDI cắm trại” - Luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu thu hút FDI ở Việt Nam cần bác bỏ

          Tre Việt - Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) vừa là vấn đề kinh tế, nhưng cũng liên quan đến độc lập, tự chủ, an ninh quốc gia. Tuy nhiên, một số thế lực thù địch, phản động lại cố tình xuyên tạc, phủ nhận nỗ lực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả. Điển hình là bài đăng ngày 25/7/2025 trên trang facebook của tổ chức phản động “Việt Tân” do Phạm Ngọc Hưng thực hiện, cho rằng FDI vào Việt Nam là “FDI cắm trại”, không tạo ra chuyển giao công nghệ, không phát triển công nghiệp phụ trợ, chỉ “phát triển ngoài da thịt kinh tế quốc dân”. Đây là một luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu thu hút FDI ở Việt Nam cần đấu tranh bác bỏ.

        Thứ nhất, bài viết thể hiện rõ quan điểm phiến diện, so sánh khập khiễng và có dụng ý chia rẽ, hạ thấp vị thế Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Tác giả lấy Trung Quốc làm “chuẩn” để chê bai Việt Nam mà không tính đến điều kiện lịch sử, chính trị, quy mô thị trường, cơ cấu thể chế, chiến lược phát triển của hai quốc gia là hoàn toàn khác biệt. Việc Trung Quốc gia nhập WTO trước hay áp dụng mô hình ép buộc chuyển giao công nghệ không thể là cái cớ để phủ nhận con đường phát triển riêng có, bền vững, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

        Thứ hai, việc dùng khái niệm “FDI cắm trại” để mô tả FDI tại Việt Nam là cách ngụy tạo luận điểm nhằm cổ súy cho tư tưởng hoài nghi, bi quan, đổ lỗi cho mô hình phát triển. Luận điệu này vừa mang tính phủ định sạch trơn, vừa khích lệ tâm lý bài xích thể chế, xúc phạm nỗ lực thu hút đầu tư minh bạch, có chọn lọc của Đảng và Chính phủ ta trong suốt gần bốn thập niên qua. Trái với luận điệu xuyên tạc của Việt Tân, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay không ngừng gia tăng cả về lượng và chất, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu, giải quyết việc làm, phát triển công nghệ và hội nhập quốc tế. Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 6 tháng đầu năm 2025, vốn FDI thực hiện ước đạt 11,72 tỉ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước (mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây), Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 9,56 tỉ USD, chiếm 81,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 932,2 triệu USD, chiếm 8,0%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 444,7 triệu USD, chiếm 3,8%. Bên cạnh đó, các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Intel, LG, Foxconn, Bosch, Toyota, Canon,… không ngừng mở rộng đầu tư, lựa chọn Việt Nam là cứ điểm chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Những con số này đã tự bác bỏ hoàn toàn cái gọi là “FDI không mua gì từ bản địa”.

         Không dừng lại ở thu hút vốn, Việt Nam đã và đang có nhiều bước tiến trong yêu cầu doanh nghiệp FDI tham gia sâu vào phát triển công nghiệp phụ trợ và chuyển giao công nghệ. Hàng loạt khu công nghiệp chuyên biệt, trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, các chương trình kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước đang được triển khai mạnh mẽ. Chính sách thu hút FDI hiện nay không còn chạy theo số lượng, mà hướng tới “chọn lọc”, gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Quan điểm nhất quán này của Đảng ta được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Trong đó, Việt Nam chủ trương thu hút FDI có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường làm tiêu chí đánh giá chủ yếu. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa FDI và doanh nghiệp trong nước, nâng cao năng lực hấp thu công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trên tinh thần đó, Chính phủ đã có nhiều hành động cụ thể: ban hành Luật Đầu tư sửa đổi, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, hoàn thiện hệ thống logistics, nâng cao năng lực của cơ quan xúc tiến đầu tư, tăng cường năng lực giám sát FDI sau cấp phép, v.v.

          Tóm lại, bài viết của Phạm Ngọc Hưng không những xuyên tạc về mô hình thu hút FDI của Việt Nam, mà còn ẩn chứa mưu đồ chống phá nền tảng phát triển kinh tế của đất nước, làm suy giảm niềm tin nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, cần tỉnh táo nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác, đồng thời lan tỏa những thành tựu chân thực của đất nước ta đến cộng đồng quốc tế vì một Việt Nam hùng cường, tự cường và vững bước trên con đường hội nhập./.


Cảnh giác trước luận điệu chống phá của Chân Trời Mới Media về Hội nghị Trung ương 12

         Tre Việt - Ngày 24/7, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng status: “Việc tổ chức Hội nghị Trung ương 12 sớm bất thường, và với cách xử lý kỷ luật thẳng tay lần này, ông Tô Lâm đã gửi đi một tín hiệu rõ ràng sẽ không có chỗ cho những ai còn chần chừ chưa dứt khoát chọn phe cho mình”. Đây là luận điệu xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa quan trọng và những kết quả, thành công rất tốt đẹp mà Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã đạt được, nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo, chia rẽ đoàn kết, thống nhất trong Đảng và uy tín của cá nhân đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm. Sâu xa hơn cả, chính là nhằm chống phá Đại hội XIV của Đảng ta.

       Chúng ta đều biết, sáng ngày 18/7, tại tại Trụ sở Trung ương Đảng (Thủ đô Hà Nội), Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) chính thức khai mạc. Sau 2 ngày làm việc với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, trách nhiệm cao, chiều ngày 19/7, Hội nghị đã họp phiên bế mạc.

        Đây là Hội nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được triệu tập sớm hơn gần 3 tháng so với kế hoạch đề ra, điều đó đã thể hiện tinh thần chủ động, khẩn trương, trách nhiệm cao của toàn Đảng trong việc chuẩn bị một cách toàn diện, kỹ lưỡng các nội dung trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Phát biểu tại phiên bế mạc, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Hội nghị đánh dấu bước đi quan trọng trong quá trình chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Kết quả của Hội nghị thể hiện rõ tinh thần đổi mới tư duy, hành động quyết liệt, đoàn kết - dân chủ - kỷ cương - sáng tạo - phát triển. Các đại biểu đã phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ, thảo luận dân chủ, thẳng thắn, khách quan và cầu thị; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Không để bất kỳ lợi ích cục bộ, cảm tính cá nhân hay nể nang, né tránh làm ảnh hưởng tới chất lượng quyết sách.

         Theo đó, tại Hội nghị này, Trung ương đã bàn, quyết định nhiều vấn đề quan trọng như: tích hợp nội dung 3 văn kiện gồm Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng thành Báo cáo chính trị theo một trục xuyên suốt, thống nhất, đồng bộ để trình Đại hội XIV của Đảng. Trung ương cũng đã xem xét, cho ý kiến chỉ đạo về việc tổng kết thực tiễn, đánh giá các vướng mắc, bất cập trong một số luật và thể chế hiện hành, từ đó định hướng sửa đổi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, thúc đẩy phát triển trong giai đoạn mới, như: lĩnh vực đất đai; lĩnh vực giáo dục, đào tạo; điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; về kết quả sơ bộ sau 19 ngày vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, v.v.

         Đặc biệt, Trung ương cũng đã thống nhất nhận định, phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng là văn bản đặc biệt quan trọng, quyết định toàn bộ công tác chuẩn bị và bầu cử nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước, góp phần vào thành công Đại hội XIV của Đảng. Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIV phải có sự gắn kết chặt chẽ với phương án bố trí nhân sự đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo chủ chốt của các ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị ở Trung ương, địa phương nhiệm kỳ 2026 - 2031 và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội nhiệm kỳ tới. Cùng với đó, phải có giải pháp, biện pháp hiệu quả để hạn chế, sớm khắc phục tình trạng nhân sự vừa được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoặc mới được quy hoạch, bổ nhiệm đã phải xem xét kiểm điểm, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

         Cũng tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách tất cả các chức vụ trong Đảng đối với các đồng chí: Nguyễn Xuân Phúc, Võ Văn Thưởng, Vương Đình Huệ, Lê Minh Khái; khai trừ khỏi Đảng đối với đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến; đồng ý để đồng chí Đỗ Đức Duy, thôi giữ chức Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) và đồng chí Võ Chí Công thôi giữ chức Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII).

          Điều đó cho thấy, công tác nhân sự Đại hội XIII và công tác cán bộ của Đảng đã được Trung ương bàn và quyết định rất chặt chẽ và nghiêm túc, thể hiện tinh thần đoàn kết, kỷ cương, kỷ luật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Luận điệu mà Chân Trời Mới Media xuyên tạc: “sẽ không có chỗ cho những ai còn chần chừ chưa dứt khoát chọn phe cho mình” là sự quy chụp lố bịch, nhằm chia rẽ đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chống phá công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Do đó, cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.


Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về thực hiện dân chủ ở Việt Nam

          Tre Việt - Ngày 24/7, trang facebook Việt Tân đăng bài Không qua trưng cầu dân ý, Cộng sản Việt Nam cứ áp đặt mọi chính sách”. Đây là quan điểm phiến diện, so sánh máy móc với mô hình dân chủ phương Tây, thiếu hiểu biết đầy đủ về cơ chế tham vấn, phản biện và biểu hiện dân chủ đặc thù trong điều kiện thực tiễn Việt Nam,... cần bác bỏ thông qua làm rõ bốn khía cạnh chính.

Một là, dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về Nhân dân. Dân chủ không chỉ là “hình thức tổ chức chính trị”, mà còn là “phương thức tổ chức quyền lực nhân dân”. Việt Nam lựa chọn mô hình dân chủ xã hội chủ nghĩa – tức dân chủ gắn với lợi ích giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng - vì nó phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện phát triển đất nước. Dân chủ không phải là “muốn gì làm nấy”, phải gắn với kỷ luật, kỷ cương; cũng không phải chỉ được thể hiện qua các cuộc trưng cầu ý kiến Nhân dân, mà được thể hiện ở nhiều hình thức, cấp độ. Trong dân chủ xã hội chủ nghĩa, bản chất là bảo đảm quyền lực thuộc về Nhân dân, được thể hiện thông qua dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện: quốc hội do dân bầu, chính quyền các cấp do dân lựa chọn và Đảng lãnh đạo nhưng không đứng trên pháp luật. Mọi quyết sách đều phải trải qua quy trình chuẩn bị, phản biện xã hội, lấy ý kiến người dân, tổ chức đối thoại và chỉnh sửa phù hợp thực tiễn. Đây chính là biểu hiện của dân chủ thực chất, không hình thức. Vì vậy, việc đánh giá mức độ dân chủ của một quốc gia dựa trên tiêu chí trưng cầu dân ý hay mô hình đa đảng là thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn.

Hai là, chính sách của Nhà nước luôn dựa trên ý chí, nguyện vọng của Nhân dân. Trên thực tế, mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đều trải qua quy trình: (1). Tham vấn và lấy ý kiến Nhân dân; trước khi ban hành các luật, chính sách lớn, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành đều công bố dự thảo công khai trên Cổng thông tin điện tử để Nhân dân, chuyên gia, nhà khoa học góp ý. Ví dụ, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2023 thu hút hơn 12 triệu lượt ý kiến góp ý; Luật Căn cước công dân, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Phòng chống bạo lực gia đình... đều tổ chức trưng cầu, đối thoại, thảo luận công khai tại các cấp cơ sở. (2). Thảo luận tại Quốc hội; các đại biểu Quốc hội được bầu cử phổ thông đầu phiếu trực tiếp là người đại diện cho ý chí Nhân dân, có trách nhiệm mang tiếng nói của Nhân dân đến nghị trường, góp ý, chất vấn, giám sát và biểu quyết thông qua chính sách. Tất cả các chính sách như: các Luật, ngân sách nhà nước, quy hoạch, phát triển,… đều do cơ quan dân cử này quyết định. Đây là hình thức dân chủ đại diện đúng nghĩa.

Ba là, trưng cầu dân ý không phải là tiêu chí duy nhất của dân chủ. Điều 29 Hiến pháp năm 2013 và Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, quy định: việc trưng cầu dân ý có thể được tổ chức đối với các vấn đề lớn, như: Hiến pháp, chủ quyền quốc gia, việc gia nhập các liên minh quốc tế, chính sách đặc biệt ảnh hưởng đến đời sống toàn dân. Do đó, việc nói Việt Nam “không có trưng cầu dân ý” là sai hoàn toàn. Như vậy, trưng cầu dân ý không phải là hình thức bắt buộc đối với mọi chính sách; ngay cả nhiều nước phương Tây như Mỹ, Anh, Nhật, Canada…. cũng không thường xuyên dùng đến hình thức này.

Nhiều chính sách tại Việt Nam được quyết định bằng phương pháp dân chủ gián tiếp (thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân), dân chủ cơ sở (họp tổ dân phố, lấy ý kiến khu dân cư), và cả các hình thức dân chủ trực tiếp, như: Lấy ý kiến toàn dân về quy hoạch đô thị; Tổ chức hội nghị nhân dân tại xã/phường về các vấn đề hạ tầng, an sinh; Thực hiện mô hình “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”,... là biểu hiện thực chất, sâu sắc của dân chủ xã hội chủ nghĩa, không phải là hình thức “áp đặt” từ trên xuống. Việc phân cấp quyền lực cho cơ quan chuyên trách và đại biểu Nhân dân là mô hình phù hợp, khoa học và hiệu quả hơn là trưng cầu thường xuyên..

Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong những năm qua, như: GDP tăng trưởng liên tục, thuộc nhóm cao nhất khu vực; Tỷ lệ đói nghèo giảm từ hơn 70% (năm 1986) xuống dưới 3% (năm 2023); Hệ thống y tế, giáo dục, an sinh xã hội liên tục được cải thiện; Tham gia sâu rộng vào các hiệp định thương mại quốc tế (CPTPP, EVFTA…),... cho thấy tính đồng thuận và phù hợp của chính sách phát triển chính là minh chứng rõ ràng nhất phản bác luận điệu “chính sách áp đặt”./.

Thuế - Nghĩa vụ, trách nhiệm và sự công bằng

        Tre Việt - Để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước; đồng thời, khắc phục bất cập, bịt lỗ hổng pháp luật, chống thất thu ngân sách, gian lận thuế,… năm 2025, Nhà nước ta đã ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quy định về thuế giá trị gia tăng, hóa đơn, chứng từ, đánh dấu bước chuyển mình trong quản lý thuế, hướng tới minh bạch hóa và hiện đại hóa nền kinh tế.

Tuy nhiên, lợi dụng những hạn chế bước đầu trong sử dụng hóa đơn điện tử, kỹ năng số của Nhân dân, nhất là một bộ phận người kinh doanh có tâm lý lo lắng trước chính sách thuế mới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tuyên truyền xuyên tạc về chính sách thuế của Nhà nước ta. Họ rêu rao trên các trang mạng xã hội rằng, chính sách thuế của Nhà nước ta là “tận thu để dân khổ”, là “siết cổ dân”, là “bóc lột tinh vi”, “phi nhân tính”, thậm chí “đẩy các doanh nghiệp đến con đường phá sản”, v.v. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc, chống phá đất nước.

Trước hết, thực chất âm mưu chống phá phía sau những lời vu cáo. Những kẻ xuyên tạc chính sách thuế mới của Nhà nước ta như ở trên thực chất là những thủ đoạn cố tình cắt xén thông tin, bóp méo bản chất thuế, từ đó vu cáo Nhà nước “bóc lột dân”. Mục đích của họ là nhằm kích động bất mãn trong Nhân dân, chia rẽ lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Họ không phải hành động vì dân, mà để gây bất ổn xã hội, làm suy yếu đất nước, đúng với thủ đoạn “diễn biến hòa bình” mà họ đã dùng hàng chục năm qua. Vì vậy ta phải hết sức tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thứ hai, về nhận thức. Cần thống nhất rằng, thuế không phải là sản phẩm riêng của Việt Nam, mà là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng của bất kỳ quốc gia nào, dù là tư bản, chủ nghĩa xã hội, quân chủ hay dân chủ. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước nhằm duy trì bộ máy, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý, đầu tư phát triển đất nước và bảo đảm an sinh xã hội. Các nước Bắc Âu được các tổ chức uy tín quốc tế đánh giá là những quốc gia hành phúc cũng có thuế thu nhập cá nhân lên tới 45 - 55%, VAT từ 20 - 25%. Như vậy, không có quốc gia nào phát triển mà không thu thuế. Vấn đề quan trọng là thuế thu thế nào, sử dụng ra sao, có công bằng, minh bạch và hợp lòng dân hay không.

Thứ ba, chính sách thuế mới nhằm khắc phục lỗ hổng, hạn chế trong chính sách thuế cũ. Chúng ta cần nhìn thẳng thực tế: hệ thống thuế Việt Nam còn bất cập, vẫn có tình trạng thất thu, gian lận thuế, lãng phí ngân sách. Kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, thương mại điện tử tăng trưởng 25% mỗi năm, nhưng thất thu thuế rất lớn. Năm 2024, thuế từ thương mại điện tử chỉ chiếm 0,8% thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi thị trường này trị giá hơn 20 tỷ USD. Nếu không siết chặt quản lý, không điều chỉnh chính sách, sẽ nảy sinh bất công, người kinh doanh truyền thống phải đóng đủ, người kinh doanh online thì lại “né” thuế. Thuế mới ra đời không để tận thu, mà để lấp lỗ hổng, tăng minh bạch, bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế chân chính.

Thứ tư, thuế không chỉ để tăng ngân sách mà còn tạo động lực phát triển và bảo đảm an sinh xã hội. Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định thuế không chỉ để tăng thu ngân sách mà quan trọng hơn là tạo động lực phát triển, điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Thực tế, nhiều sắc thuế có tác dụng hướng dẫn tiêu dùng, điều chỉnh hành vi sản xuất, bảo vệ môi trường và tạo công bằng giữa các loại hình kinh doanh. Đồng thời, chính sách thuế của Nhà nước ta còn hướng tới bảo đảm an sinh xã hội - tính chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Theo Bộ Tài chính, trong tổng chi ngân sách năm 2024, có gần 700.000 tỉ đồng (27,6%) dành cho an sinh xã hội, bao gồm: trợ cấp người có công, hộ nghèo, trẻ em dưới 06 tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí, miễn giảm học phí, xây bệnh viện, trường học, v.v. Ngay cả chi cho quốc phòng, an ninh cũng là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc; từ đó, người dân, doanh nghiệp mới yên tâm làm ăn, sinh sống và thụ hưởng hạnh phúc.

Thứ năm, Đảng, Nhà nước luôn đặt lợi ích Nhân dân lên trên hết. Chính sách thuế của Việt Nam không đặt mục tiêu tận thu mà hướng tới hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cùng phát triển. Trong đại dịch COVID-19, Nhà nước đã miễn giảm, giãn thuế cho hơn 140.000 doanh nghiệp, tổng số tiền trên 78.000 tỉ đồng, để cứu dân, cứu doanh nghiệp. Không có Nhà nước “bóc lột dân” nào lại tự nguyện từ bỏ nguồn thu như thế. Bác Hồ từng nói: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”. Tinh thần ấy soi rọi mọi chính sách, trong đó có thuế.

Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hãy tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc chủ trưởng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có chính sách thuế mới, đừng biến mình thành công cụ tiếp tay cho thế lực chống phá đất nước, làm tổn hại lợi ích dân tộc và cộng đồng. Nộp thuế là trách nhiệm, nghĩa vụ, là sự đóng góp tích cực của mỗi doanh nghiệp, người dân để cùng chung tay xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc và hùng cường./.


Jul 23, 2025

Hạo Nhiên lại phán bừa

          Mới đây, trên trang “Vietnamthoibao”, Hạo Nhiên có bài viết: Hồi hương - Ảo ảnh Việt Nam đang “thịnh vượng và tự do”, với nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn những thành tựu phát triển của đất nước, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Luận điệu xuyên tạc: thành tựu mà đất nước và nhân dân ta đạt được từ ngày thống nhất đất nước đến nay chỉ là “một ảo ảnh tạm bợ” đã cho thấy dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước ta của Hạo Nhiên. Do đó, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Một là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường phát triển trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Sau 50 năm thống nhất đất nước, gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập tiệm cận trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, có vai trò chủ động, tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức hơn 60% năm 1986. Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc.

Hai là, mọi tầng lớp nhân dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện có hiệu quả; tạo cơ sở kích thích, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động của con người. Nhờ vậy, các giai tầng xã hội và các chủ thể tự do, tự chủ đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Các phúc lợi xã hội trong giáo dục, y tế, nhà ở tại Việt Nam đều được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Hiện nay, cả hệ thống chính trị tại Việt Nam đang nỗ lực chung tay hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà ở để đến hết năm 2025 sẽ xóa được toàn bộ 400.000 nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023. Xét ở khu vực châu Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 6. Đây là bảng xếp hạng do Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố dựa trên kết quả khảo sát tại 143 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số hạnh phúc tại Việt Nam tăng đều qua các năm cho thấy kết quả đạt được rất quan trọng của Đảng, Nhà nước ta về chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Trong lúc tình hình an ninh của một số khu vực trên thế giới rất phức tạp với cảnh bom rơi đạn lạc thì người dân Việt Nam càng cảm nhận được sự vô giá của hòa bình, hạnh phúc mà mình đang được hưởng.

Như vậy, những luận điệu mà Hạo Nhiên đưa ra đã thể hiện rõ bộ mặt của kẻ phản động, chống phá cách mạng nước ta. Do đó, chúng ta cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu phản động của Y. Đồng thời, luôn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thành công của sự nghiệp đổi mới, đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.vn)

 

Vạch trần sự thiên vị và động cơ chính trị trong Báo cáo Nhân quyền 2025 của Human Rights Watch về Việt Nam

           Dưới vỏ bọc của một tổ chức phi chính phủ bảo vệ nhân quyền, HRW trong nhiều năm qua đã không ít lần công bố những tài liệu mang tính xuyên tạc, thiên lệch, thiếu cơ sở pháp lý và không đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá khách quan. Báo cáo năm nay không phải là ngoại lệ – mà là minh chứng rõ nét cho một chiến dịch có hệ thống nhằm bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, bất chấp sự thật khách quan và tiến bộ vượt bậc trong thực tiễn bảo đảm quyền con người ở quốc gia này.

Ngay từ những dòng đầu tiên, HRW đã tái sử dụng những cụm từ sáo mòn như “đàn áp chính trị”, “bắt giữ blogger”, “giới hạn tự do biểu đạt” - những luận điệu đã cũ kỹ, không có gì mới ngoài việc tiếp tục lặp lại các cáo buộc không được kiểm chứng, được sao chép gần như nguyên xi từ các nguồn tin phi chính thống, thiên kiến hoặc đến từ những cá nhân có tiền sử vi phạm pháp luật tại Việt Nam. Đáng nói hơn, báo cáo này cố tình gán nhãn “tù nhân lương tâm” cho những đối tượng bị xử lý vì hành vi vi phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, chứ không phải vì “phát biểu chính kiến ôn hòa” như họ khẳng định.

Ví dụ, trường hợp Nguyễn Chí Tuyến hay Trương Huy San được HRW nêu ra như những người “bị bắt giữ phi pháp”. Tuy nhiên, một tổ chức tôn trọng pháp quyền lẽ ra phải nhận thức được rằng việc lan truyền thông tin sai sự thật, kích động thù hận, kêu gọi lật đổ chính quyền không thể được xem là “tự do biểu đạt”. Hành vi đó tại bất kỳ quốc gia nào, từ Mỹ cho đến Đức, đều bị xử lý bằng hệ thống pháp luật nghiêm khắc. Không thể có chuyện một người vi phạm pháp luật lại được tôn vinh như một biểu tượng nhân quyền - điều đó chẳng khác nào khuyến khích vi phạm pháp luật quốc gia.

Đặc biệt, HRW thể hiện rõ sự thiên vị về mặt nhận thức khi tuyệt đối hóa các quyền dân sự - chính trị theo tiêu chuẩn phương Tây, đồng thời hoàn toàn làm ngơ trước các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa - những lĩnh vực mà Việt Nam đạt được thành tựu nổi bật. Theo UNDP, từ năm 2020 đến 2025, Việt Nam đã giảm tỷ lệ nghèo đa chiều từ gần 10% xuống dưới 3%, vượt cả các chỉ tiêu của Liên Hợp Quốc. Hơn 90% dân số có bảo hiểm y tế, phổ cập giáo dục tiểu học đạt 100%. Những điều đó không phải là nhân quyền thực chất sao?

Một trong những luận điểm sai lệch nhất trong báo cáo HRW 2025 là cáo buộc Việt Nam “không có tự do báo chí và Internet”. Thật phi lý khi khẳng định điều đó trong khi Việt Nam có hơn 70 triệu người dùng Internet - phần lớn đều hoạt động tích cực trên mạng xã hội, nhiều khi với các nội dung phê phán mạnh mẽ chính sách công mà vẫn không bị ngăn cản. Họ chỉ bị xử lý khi hành vi vi phạm cấu thành yếu tố nguy hiểm cho xã hội - như xuyên tạc, bịa đặt tin giả, xúc phạm danh dự người khác, kêu gọi chống phá nhà nước. Điều này phù hợp với cả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), vốn cho phép các quốc gia thành viên giới hạn quyền tự do ngôn luận trong trường hợp cần thiết vì an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng.

Về vấn đề thiểu số và tôn giáo, HRW đã bóp méo hoàn toàn thực tế. Báo cáo không hề đề cập đến chương trình 135 của Việt Nam – một chính sách lớn hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số, giúp giảm nghèo bền vững ở Tây Nguyên, Tây Bắc. Các trường hợp bị bắt giữ đều xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật - ví dụ như tổ chức tụ tập trái phép, kích động chia rẽ dân tộc, hay tuyên truyền phản động - chứ không phải do “niềm tin tôn giáo”. Ngược lại, Việt Nam hiện có hơn 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau, với hàng ngàn cơ sở thờ tự được nhà nước hỗ trợ về pháp lý và vật chất. HRW đã cố tình chọn lọc các vụ việc cá biệt, rồi dùng thủ pháp tổng quát hóa để tạo cảm giác về “một hệ thống đàn áp có tổ chức” - một hành vi cực kỳ thiếu đạo đức trong nghiên cứu và công bố thông tin.

Không thể không đề cập đến thủ đoạn liên kết và hậu thuẫn công khai của HRW đối với các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam. Không ít lần, HRW kêu gọi “thả tù nhân chính trị” - tức là cổ súy cho việc phá hoại nhà nước pháp quyền, gây mất ổn định xã hội. Đây là hành vi can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Nếu tổ chức này thật sự khách quan và tuân thủ các nguyên tắc quốc tế, họ phải lên án mọi vi phạm nhân quyền - kể cả ở Mỹ, nơi mỗi năm có hơn 40.000 người thiệt mạng vì bạo lực súng đạn, hay tình trạng phân biệt chủng tộc nghiêm trọng khiến phong trào Black Lives Matter bùng nổ trên toàn nước Mỹ. Thế nhưng, HRW lại chỉ trích Việt Nam gay gắt hơn cả khi so với các đồng minh chính trị của họ - điều đó cho thấy một sự thiên vị có chủ đích, mang tính chính trị nhiều hơn là đạo đức nhân quyền.

Quan trọng hơn cả, HRW đã hoàn toàn làm ngơ trước những thành tựu được quốc tế ghi nhận của Việt Nam. Việc tham gia Hội đồng Nhân quyền LHQ giai đoạn 2023–2025, phê chuẩn 7/9 công ước nhân quyền cốt lõi, đối thoại UPR định kỳ, hay việc tiếp nhận đến 271/320 khuyến nghị từ cộng đồng quốc tế là những minh chứng không thể phủ nhận cho tinh thần cầu thị, hợp tác và quyết tâm cải thiện không ngừng của Việt Nam. Báo cáo của HRW không những không nhắc đến điều đó, mà còn phớt lờ hoàn toàn các thành tích mang tính nền tảng trong bảo đảm quyền sống, quyền được giáo dục, y tế và phát triển toàn diện cho người dân.

Cuối cùng, không thể không nhắc đến vấn đề động cơ. HRW nhận tài trợ hàng triệu USD từ các quỹ tư nhân tại Mỹ, nhiều tổ chức trong đó có quan điểm chống lại các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Việc HRW lặp đi lặp lại mô típ chỉ trích Việt Nam trong suốt từ năm 2015 đến nay, bất chấp thay đổi chính sách và thực tiễn tích cực, không khác gì một chiến dịch chính trị dài hơi được ngụy trang dưới lớp vỏ nhân quyền.

Cộng đồng quốc tế cần nhận thức rõ rằng: nhân quyền không thể bị đánh giá bằng các tiêu chuẩn cứng nhắc, phiến diện. Một quốc gia đang phát triển, có điều kiện lịch sử - văn hóa đặc thù như Việt Nam cần được nhìn nhận công bằng trong tổng thể nỗ lực toàn diện, chứ không thể bị áp đặt tiêu chí từ phương Tây rồi quy kết sai lệch. HRW nếu thực sự vì nhân quyền, hãy nhìn nhận những tiến bộ thực chất mà người dân Việt Nam đang thụ hưởng từng ngày - chứ không phải tiếp tục cổ vũ cho các phần tử cực đoan và áp đặt luận điệu chính trị giả danh đạo đức.

Kết luận, Báo cáo nhân quyền 2025 của HRW không phải là một sản phẩm học thuật khách quan, mà là một văn bản chính trị đội lốt nhân quyền, thiên vị, thiếu chứng cứ và mang động cơ can thiệp. Việt Nam không phủ nhận những tồn tại cần tiếp tục cải thiện, nhưng không thể chấp nhận sự xuyên tạc có hệ thống đến từ một tổ chức vốn đã mất đi uy tín trong chính cộng đồng nhân quyền quốc tế. Đã đến lúc HRW cần bị chất vấn thay vì tiếp tục tự cho mình quyền “đánh giá” một cách phi đạo đức và phản khoa học./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)