Oct 16, 2026
Bác bỏ suy luận phiến diện về tự do và pháp luật ở Việt Nam
Tự do ngôn luận phải đi cùng trách nhiệm
Nghị định số 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí có hiệu lực từ ngày 26/9/2026. Ngay sau khi được ban hành, văn bản này trở thành mục tiêu công kích của một số tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí. Cùng với việc diễn giải suy diễn hòng làm sai lệch nội dung nghị định, có ý kiến còn vu cáo đây là biện pháp “bóp nghẹt tự do báo chí”. Tuy nhiên, muốn đánh giá đúng bản chất của một văn bản pháp luật, cần căn cứ những quy định cụ thể, đặt trong hệ thống pháp luật hiện hành và xem xét đầy đủ cả quyền, nghĩa vụ lẫn trách nhiệm của các chủ thể liên quan.

Ảnh: Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí tác nghiệp
tại một sự kiện đối ngoại quốc phòng
Nghị định 367 quy định hành vi vi phạm,
hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt trong
lĩnh vực báo chí. Văn bản này cụ thể hóa chế tài theo Luật Báo chí số
126/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày
1/7/2026.
Chi tiết đang bị các trang mạng phản động,
thiếu thiện chí khai thác nhiều nhất là mức phạt tiền tối đa 500 triệu đồng đối
với tổ chức, 250 triệu đồng đối với cá nhân cho mỗi hành vi vi phạm. Trang
“Chân trời mới Media” vu cáo rằng Nghị định 367 là “công cụ mới” để bóp nghẹt tự
do báo chí, biến báo chí thành kênh tuyên truyền một chiều. Một số đối tượng
rêu rao mức phạt cao sẽ khiến các tòa soạn sợ hãi, tự kiểm duyệt; quy kết rằng
quy định có thể dùng để xử lý tùy tiện những tiếng nói trái chiều. Có đối tượng
còn đem chuẩn mực của nước ngoài ra làm thước đo để rồi kết luận Việt Nam đang
siết chặt báo chí.
Điểm chung của các nhận định này là cố
tình xoáy vào số tiền xử phạt mà phớt lờ các nội dung khác trong văn bản. Đối
chiếu với chính nghị định, có thể thấy trước hết, 500 triệu đồng là mức trần,
không phải mức phạt chung.
Điều 14 của Nghị định, quy định về vi phạm
trong đăng, phát nội dung thông tin, chia thành 9 khung tiền phạt, thấp nhất từ
5 - 10 triệu đồng. Đăng, phát thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng
bị phạt 10 - 20 triệu đồng; gây ảnh hưởng nghiêm trọng 60 - 80 triệu đồng; rất
nghiêm trọng 80 - 100 triệu đồng.
Khung 400 - 500 triệu đồng chỉ áp dụng
cho 2 nhóm hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Thông tin gây ảnh
hưởng đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; thông tin gây chia rẽ giữa các
tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận
thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc.
Thứ hai, Nghị định không tự đặt ra điều
cấm mới. Những hành vi chịu khung phạt cao nhất được dẫn chiếu trực tiếp đến Điều
8, Luật Báo chí năm 2025. Các quy định này phù hợp với Khoản 2, Điều 14, Hiến
pháp năm 2013: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định
của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Giới hạn cụ thể do
Quốc hội xác lập bằng luật, nghị định quy định ra chế tài hành chính tương ứng.
Người bị xử phạt có quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện theo Luật Xử lý vi
phạm hành chính.
Thứ ba, trong danh mục hành vi bị xử phạt
về nội dung thông tin, không có hành vi nào là phản biện chính sách, phản ánh
tiêu cực, mà chỉ xử lý với việc bịa đặt, vu khống, đưa tin sai sự thật. Phát hiện
bất cập, phản ánh điều người dân quan tâm là chức năng của báo chí. Dĩ nhiên, với
những khái niệm có phạm vi diễn giải rộng, việc áp dụng phải dựa trên chứng cứ,
đúng thẩm quyền và nhất quán giữa các vụ việc. Đó là đòi hỏi chính đáng đối với
cơ quan thực thi, song không thể vin vào đó để xuyên tạc rằng văn bản được ban
hành nhằm bịt miệng báo chí.
Thứ tư, có một phần trong Nghị định mà
các đối tượng phản động, cực đoan cố tình không nhắc tới, đó là những quy định
bảo vệ nhà báo và bảo vệ người dân trước sai phạm của báo chí. Tại Điều 13,
hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của nhà báo, phóng viên bị
phạt 20 - 30 triệu đồng; thu giữ trái phép phương tiện, tài liệu tác nghiệp 30 -
50 triệu đồng; xúc phạm nhà báo đang tác nghiệp, cố ý làm hư hỏng phương tiện
50 - 70 triệu đồng; đe dọa, uy hiếp tính mạng nhà báo, phóng viên 70 - 100 triệu
đồng.
Theo Nghị định số 119/2020/NĐ-CP của
Chính phủ trước đây, mức cao nhất cho nhóm hành vi này là 60 triệu đồng. Đồng
thời tại Điều 14, cơ quan báo chí bị phạt nếu quy kết tội danh khi chưa có bản
án có hiệu lực pháp luật của tòa án, không đăng ý kiến phản hồi của tổ chức, cá
nhân liên quan, tiết lộ bí mật đời tư hoặc làm lộ danh tính người tố cáo.
Việc các đối tượng cố tình khai thác mức
tiền phạt trong Nghị định 367, bị đẩy thành câu chuyện “đàn áp” tự do ngôn luận,
tự do báo chí, trước hết nhằm gieo tâm lý e dè, đề phòng trong đội ngũ làm báo,
tách người làm báo khỏi cơ quan quản lý. Tiếp đó là tạo cớ: mỗi lần Việt Nam
ban hành một văn bản về báo chí hay không gian mạng, lập tức những đối tượng
này lớn tiếng lu loa, xuyên tạc, dẫn ra như những “dẫn chứng” cụ thể, để rồi từ
đó biến thành dữ liệu, căn cứ cho những bản phúc trình, bảng xếp hạng thiếu
khách quan về tự do báo chí, làm căn cứ vận động gây sức ép từ bên ngoài. Sâu
xa hơn, khi coi mọi chế tài đối với tin giả, xuyên tạc lịch sử là vi phạm tự do
ngôn luận, họ đang đòi một vùng miễn trừ pháp lý cho chính loại thông tin ấy.
Trong khi đó, nhu cầu về thông tin chính
xác chưa bao giờ lớn như hiện nay. Hình ảnh, giọng nói, video do trí tuệ nhân tạo (AI)
tạo ra ngày càng khó phân biệt với tư liệu thật; một tin sai có thể làm tổn hại
danh dự một con người, uy tín một doanh nghiệp trước khi sự thật kịp được làm
rõ. Phóng viên bỏ hàng tháng trời điều tra, xác minh không thể bị đánh đồng với
những nơi giật tít câu khách, dựng chuyện sai sự thật. Xử lý nghiêm vi phạm
cũng là bảo vệ uy tín của những người làm nghề tử tế.
Khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị, mà Việt Nam gia nhập năm 1982, nêu rõ việc thực
hiện quyền tự do ngôn luận kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, có
thể phải chịu một số hạn chế do luật định để tôn trọng quyền, uy tín của người
khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.
Ở Đức, Điều 130, Bộ luật Hình sự xử lý
hành vi kích động thù hận, phủ nhận hoặc hạ thấp tội ác của chủ nghĩa quốc xã,
với hình phạt đến 5 năm tù. Pháp có Luật Gayssot năm 1990 trừng phạt việc phủ
nhận tội ác chống loài người. Luật An toàn trực tuyến năm 2023 của Anh cho phép
phạt doanh nghiệp vi phạm đến 18 triệu bảng Anh hoặc 10% số doanh thu toàn cầu.
Ngay tại Hoa Kỳ, nơi Tu chính án thứ nhất bảo vệ tự do ngôn luận rất mạnh,
tháng 4/2023 Fox News vẫn phải chấp nhận trả 787,5 triệu USD để dàn xếp vụ kiện
phỉ báng của Công ty Dominion Voting Systems liên quan thông tin sai về bầu cử.
Mỗi nước có hệ thống pháp luật riêng,
nhưng các thí dụ nêu trên cho thấy không nơi nào coi tự do ngôn luận là quyền
phát ngôn vô giới hạn.
Điều 25, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ghi
nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân. Đó
là quyền hiến định, không phải sự ban phát, và Nghị định 367 không thu hẹp quyền
ấy. Người được lợi từ một nền báo chí có kỷ cương chính là công chúng, bởi họ
được tiếp cận một môi trường thông tin văn minh, lành mạnh, nhân văn, được bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng./.
(Trích nguồn:
nhandan.vn)
Oct 14, 2026
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc, cổ xúy “thay đổi thể chế chính trị” ở Việt Nam
Oct 12, 2026
Quan điểm “lấy dân làm gốc” là chân lí không thể bôi nhọ, xuyên tạc
Oct 9, 2026
Vạch trần sự đánh tráo khái niệm, phủ nhận giá trị của Tuyên ngôn Độc lập
Trên thực tế, sau khi giành được độc lập, đất nước ta phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài, tình thế như “ngàn cân treo sợi tóc”. Vì thế, cách suy luận: “Độc lập mà người dân vẫn làm nô lệ - đó không phải độc lập” của Nhật Ngôn là cố tình nhìn nhận thiếu khách quan về tình hình đất nước tại thời điểm; cố tình xuyên tạc, lấy một tiêu chí về mức độ thực hiện quyền và tự do trong đời sống xã hội để phủ định chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của dân tộc.
Thứ hai, về cơ sở lịch sử. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột, cai trị của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do cho dân tộc, được đánh dấu mốc là Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mà Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 chính là văn kiện tuyên bố sự ra đời của một quốc gia độc lập; đồng thời, khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lại những tư tưởng về quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp là một lập luận chính trị - pháp lý có tính phổ quát: nếu các dân tộc Mỹ, Pháp được thừa nhận quyền tự do, bình đẳng thì dân tộc Việt Nam cũng có quyền ấy.
Trong bài viết, Nhật Ngôn dùng từ “Suy rộng ra” là cố tình tách riêng với mạch lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập để suy diễn đó là “cú lừa” là hoàn toàn xuyên tạc, phi lý.
Thứ ba, về cơ sở pháp lý. Quyền dân tộc tự quyết là sự khẳng định độc lập, chủ quyền, là điều kiện bảo đảm quyền con người, cơ sở bảo đảm tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Trên thực tế, Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng như các văn kiện của Đảng, đều quy định rõ về quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Trong suốt quá trình phát triển đất nước, Việt Nam luôn khẳng định và thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn với xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Mặt khác, quyền dân tộc tự quyết cũng không phải khái niệm do Việt Nam tự đặt ra. Đây là một nguyên tắc quan trọng của luật pháp quốc tế, được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và nhiều văn kiện quốc tế. Bởi vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn quyền con người với quyền dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không những không trái với tư tưởng tiến bộ của nhân loại mà còn thể hiện tầm nhìn chính trị sâu sắc về mối quan hệ giữa quyền của cá nhân và quyền của cộng đồng dân tộc.
Thứ tư, về cơ sở thực tiễn. Sau hơn 81 năm kể từ ngày 02/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta từ nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhân dân Việt Nam trực tiếp tham gia Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã đồng cam, cộng khổ thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đã thu được những thành tự to lớn, đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, hội nhập quốc tế,... ngày càng phát triển, đời sống Nhân dân được nâng cao, khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cùng với đó, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm bảo đảm và thực thi các quyền dân sự, chính trị của công dân. Thực tiễn đời sống xã hội ở Việt Nam là một bức tranh sinh động, mọi công dân đều được tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tín ngưỡng,... được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và là minh chứng đanh thép khẳng định rằng: Ở Việt Nam, độc lập dân tộc đã trở thành nền tảng để phát triển con người, chứ không phải là “khẩu hiệu được dựng lên để lừa dân”.
Vì thế, luận điệu mà Nhật Ngôn đã đề cập trong bài viết là cố tình đánh tráo khái niệm để xuyên tạc, chống phá, cần bị vạch trần, bác bỏ./.
Oct 8, 2026
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Trần Đông A về Nghị quyết số 23
Tre Việt – Ngày 24/9, trên các trang mạng phản động, như: Tiếng Dân, Việt Tân, Việt Nam Thời Báo,… đồng loạt đăng bài viết của Trần Đông A với tiêu đề: “Nghị quyết 23: Bình cũ, rượu càng cũ hơn?”, kích động, rêu rao rằng: “một chính sách được xây dựng trên những tiền đề cũ rất khó tạo ra một kết quả mới”. Đây là chiêu trò xuyên tạc trắng trợn nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV); xuyên tạc chính sách hòa hợp, hòa giải của Đảng, Nhà nước ta, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói chuyện với các kiều bào tiêu biểu về dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ IV và Diễn đàn Tri thức, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài |
Cần khẳng định, Nghị quyết số 23-NQ/TW,
ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV) về công tác người Việt Nam ở nước
ngoài (viết gọn là Nghị quyết 23) đã kế thừa và phát triển Nghị quyết số
36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác người Việt Nam ở
nước ngoài; đồng thời, có sự gắn kết, liên thông với các văn bản chỉ đạo chiến
lược khác trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế, phù hợp với bối cảnh mới,
phản ánh đầy đủ hơn vị thế, tiềm lực, trí tuệ, uy tín và khả năng đóng góp ngày
càng lớn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng,
phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung Nghị quyết 23 không thay đổi nền
tảng tư tưởng của Nghị quyết, mà kế thừa toàn diện tinh thần đại đoàn kết dân tộc
và phát triển lên một bước mới. Tư tưởng bao trùm của Nghị quyết 23 khẳng định:
người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam và nhấn mạnh, là một trong những nguồn lực chiến lược quan
trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với
thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và
bảo vệ Tổ quốc.
Đây là bước phát triển mới trong nhận thức
khi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận là một cấu phần quan
trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sức mạnh của Việt Nam giờ đây không
chỉ được đo bằng những nguồn lực hiện hữu trong lãnh thổ quốc gia mà còn bao gồm
nguồn lực trí tuệ, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và quan hệ quốc tế của
hơn 6,5 triệu đồng bào trên khắp thế giới. Với vị thế đó, người Việt Nam ở nước
ngoài vừa là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, vừa là lực lượng đồng hành và
tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 23 đánh dấu bước
phát triển mới trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, nâng tầm
tư duy từ “vận động, tập hợp, chăm lo” lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế để
người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào hành trình hội nhập, xây dựng,
phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh vai trò kiến tạo của
Nhà nước, Chính phủ trong việc hoàn thiện các thể chế, cơ chế và chính sách để
thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài.
Về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, Nghị
quyết 23 có 03 điểm mới, nhấn mạnh nhiệm vụ phát huy hiệu quả nguồn lực của người
Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Về mục tiêu, Nghị quyết nhấn mạnh việc
phát huy các nguồn lực chiến lược của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát
triển đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh
thái khởi nghiệp, v.v.
Về phương thức huy động nguồn lực, thay
vì chủ yếu vận động, thu hút các cá nhân riêng lẻ, Nghị quyết yêu cầu xây dựng
cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái toàn cầu để kết nối chuyên gia, trí thức,
nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước
ngoài. Việc đóng góp của kiều bào cũng được mở rộng và linh hoạt hơn, không chỉ
thông qua trở về nước làm việc trực tiếp mà còn thể hiện từ xa dưới nhiều hình
thức phù hợp, hiệu quả.
Về mức độ tham gia của kiều bào, Nghị
quyết chuyển từ định hướng khuyến khích đồng bào đóng góp xây dựng quê hương, đất
nước sang tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu rộng hơn
vào quá trình phát triển đất nước thông qua góp ý xây dựng chủ trương, chính
sách, tham gia các chương trình phát triển quốc gia, tổ chức chính trị - xã hội
phù hợp cũng như các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số.
Bên cạnh đó, Nghị quyết đề cao vai trò của
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ
xa; không chỉ là cầu nối hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước mà còn là
lực lượng góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Nghị quyết khẳng định, kiều
bào là lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù
địch, các hoạt động lợi dụng người Việt Nam ở nước ngoài để chống phá đất nước.
Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy vai
trò của người Việt Nam ở nước ngoài là “đại sứ văn hóa, đất nước và con người
Việt Nam”, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của cộng đồng tại nước sở tại, quảng
bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp
tác quốc tế. Đây là bước phát triển mới trong tư duy khi chuyển từ mục tiêu chủ
yếu gìn giữ bản sắc văn hóa, ngôn ngữ mẹ đẻ, sang phát huy văn hóa như một nguồn
lực và công cụ của sức mạnh mềm quốc gia.
Nghị quyết cũng khuyến khích, hỗ trợ người
Việt Nam có năng lực tham gia các tổ chức quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị
thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, Nghị quyết dành sự
quan tâm đặc biệt, hỗ trợ thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết sâu
sắc và gắn bó bền vững với quê hương, đất nước thông qua công tác giáo dục, các
hoạt động trải nghiệm, về nguồn, học tập, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tình
nguyện và giao lưu nhân dân.
Như vậy, Nghị quyết 23 là một quyết sách
lớn của Đảng, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi
mới và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Việt Nam ở nước
ngoài; đồng thời cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đại hội XIV về
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mọi nguồn lực cho phát
triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đó không phải “bình cũ, rượu càng cũ hơn”, và cũng hoàn toàn trái ngược với luận
điệu “một chính sách được xây dựng trên
những tiền đề cũ rất khó tạo ra một kết quả mới” của Trần Đông A xuyên tạc,
rêu rao.
Vì thế, luận điệu xuyên tạc, kích động
trắng trợn này cần bị lật tẩy và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.
Oct 6, 2026
Không thể nào chia cắt tinh thần “tình dân tộc - nghĩa đồng bào”
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tham dự sự kiện văn hóa nghệ thuật “Việt Nam: Hành trình Tổ quốc qua điện ảnh và âm nhạc” và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ. |
Những lời lẽ chân thành ấy, cũng như chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài lập tức bị một số tổ chức, cá nhân cực đoan, phản động tìm cách xuyên tạc, công kích. Các đối tượng cho rằng hòa hợp dân tộc chỉ là “bình cũ, rượu cũ”; đồng thời rêu rao, sau hơn 50 năm, việc Việt Nam vẫn phải tiếp tục kêu gọi hòa giải là lỗi của thể chế. Lập luận này mặc nhiên coi hòa hợp như một việc làm một lần là xong. Các đối tượng cố tình tách rời tuyên bố vừa qua của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khỏi quá trình xây dựng và thực hiện chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài suốt nhiều năm qua để cho rằng lời kêu gọi bây giờ là quá muộn. Trong khi đó, những kẻ chỉ trích thông điệp là vô nghĩa vốn đang thuộc các tổ chức nhiều năm nay lấy việc khơi lại hận thù làm lý do tồn tại và cơ hội trục lợi.
Luận điệu thứ hai cho rằng, Nhà nước chỉ nhìn người Việt ở nước ngoài như một “nguồn lực” gồm tiền, chất xám, công nghệ, bị Nhà nước khai thác. Song Nghị quyết 23 nhấn mạnh người Việt Nam ở nước ngoài trước hết là “bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, sau đó mới là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng”. Nghị quyết còn đặt mục tiêu giúp bà con có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng ở nước sở tại. Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói rõ: việc trở về hay tiếp tục làm việc ở nước ngoài “là lựa chọn gắn với nghề nghiệp, gia đình và hoàn cảnh của mỗi người. Đảng, Nhà nước tôn trọng những lựa chọn đó”.
Khi không thể phủ nhận chủ trương đúng đắn này, các đối tượng cố tình xuyên tạc mục đích, động cơ của Nghị quyết 23 là một “chiến lược thâm nhập” nhằm tác động tới cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây là cáo buộc vô căn cứ. Nghị quyết yêu cầu công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Những nhiệm vụ nghị quyết đề ra, từ dạy tiếng Việt, kết nối trí thức, doanh nhân đến bảo hộ công dân, đều thực hiện công khai và dựa trên sự tự nguyện của bà con.
Hơn 6,5 triệu người Việt ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có rất nhiều trí thức, doanh nhân thành đạt, đủ hiểu biết để tự quyết định mình gắn bó và đóng góp với quê hương bằng những cách thức phù hợp.
Mặt khác, các đối tượng còn dùng thủ pháp đánh tráo khái niệm. Khai thác nội dung “một bộ phận nhỏ người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, thậm chí có hành động phá hoại mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và các nước sở tại, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam”, các đối tượng quy kết Nhà nước “phân loại”, “phân biệt đối xử”; chỉ chấp nhận những ý kiến “phù hợp”... Khi cơ quan chức năng xử lý người vi phạm pháp luật, các đối tượng lập tức lu loa Việt Nam “đàn áp người khác chính kiến”.
Thực tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng sự khác biệt về quan điểm phát triển kinh tế, văn hóa, việc góp ý xây dựng thể chế luôn được ghi nhận và tiếp thu qua các diễn đàn, hội nghị. Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu cần có đầu mối liên hệ rõ ràng để kiều bào tiếp tục gửi góp ý sau cuộc gặp, và mong có những cuộc trao đổi cởi mở. Tuy nhiên, cần xác định ranh giới pháp luật giữa “bất đồng chính kiến” và “hành vi chống phá, xâm phạm an ninh quốc gia”. Pháp luật Việt Nam không có tội danh nào dành cho việc góp ý, phản biện; người bị xử lý hình sự là người có hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Nguyên tắc này không riêng gì Việt Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tại Điều 19, thừa nhận quyền tự do ngôn luận có thể bị giới hạn bằng luật để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng.
Hòa hợp dân tộc đã được Đảng, Nhà nước ta kiên định thực hiện từ những ngày đầu lập nước. Ngày 31/5/1946, trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ trước khi lên đường sang thăm nước Pháp và dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”.
Lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã được khắc ghi và thực hành qua các giai đoạn lịch sử. Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc. Năm 2004, Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài yêu cầu: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”. Nghị quyết 23 kế thừa tinh thần đó đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “gác lại quá khứ”; công tác vận động, chăm lo chuyển mạnh sang đồng hành, tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia những việc lớn của đất nước.
Gác lại quá khứ không có nghĩa là quên lịch sử, buộc ai phải từ bỏ ký ức của mình hay xóa đi những khác biệt về hoàn cảnh, trải nghiệm, quan điểm. Điều cốt lõi ở đây là tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích quốc gia - dân tộc, để quá khứ không còn là rào cản. Tinh thần này được chính người Việt Nam ở nước ngoài đón nhận, đánh giá cao. Ông David Nguyễn, người Việt tại Hoa Kỳ ghi nhận: “Nghị quyết 23 thể hiện một tư duy phát triển cởi mở và chủ động hơn rất nhiều. Tôi hiểu rất rõ cái giá của sự chia rẽ. Tinh thần xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai không phải là chối bỏ lịch sử mà là sự dũng cảm vượt qua nỗi đau để sống cho hiện tại và tương lai của con cháu. Một dân tộc biết bao dung, vượt qua hận thù để nắm tay nhau là một dân tộc hùng cường”. Ông Nguyễn Hoài Bắc, Chủ tịch Hội doanh nhân Việt Nam - Canada, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ: “Chúng ta hòa hợp, hòa giải dân tộc để chúng ta trở lại cuộc sống bình yên. Chúng ta không quên lịch sử, nhưng không đào bới bởi vết thương đã lành thì đừng làm nó hư lại”.
Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đại hội XIV và đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, xác định: người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nghị quyết thể hiện sự nâng tầm tư duy chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới, người Việt Nam ở nước ngoài được đặt vào vị trí trung tâm, được bảo vệ quyền lợi hợp pháp và được tạo điều kiện tốt nhất để cống hiến cho dân tộc.
Trong sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại. Nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế phải được kết nối. Nguồn lực vật chất phải đi cùng với nguồn lực trí tuệ. Sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước phải được gắn với sức mạnh của 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc trên khắp thế giới để cùng nhau chung tay vun đắp tương lai./.
(Trích nguồn: nhandan.vn)
Oct 2, 2026
Không thể phủ nhận việc thực thi quyền giám sát của Nhân dân
Tre Việt - Mới đây, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng tải bài viết: “Nói đi đôi với làm và câu chuyện giám sát người đứng đầu”, trong đó cố tình đồng nhất hoạt động “dân giám sát” với việc “tiếp nhận thông tin một chiều từ dưới lên”, “nghe để đó”, “lắng nghe hình thức”. Đây là cách nhìn phiến diện, đánh tráo giữa một khâu của quá trình giám sát với bản chất của cơ chế giám sát, giữa hạn chế trong tổ chức thực hiện với chủ trương, pháp luật về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, cần bị vạch trần, bác bỏ.
Trước hết, cần khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Hiến pháp năm 2013 đã xác định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Đáng chú ý, tại Điều 8 đã quy định rõ: cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng giám sát, phản biện xã hội.
Trong Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ, mục đích của giám sát là góp phần phát hiện sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Như vậy, với quy trình chặt chẽ, từ theo dõi - phát hiện - xem xét - đánh giá - kiến nghị không thể đồng nhất thành “tiếp nhận thông tin một chiều”. Càng không thể vì một số ít trường hợp giải quyết kiến nghị chưa kịp thời rồi quy chụp toàn bộ cơ chế “dân giám sát” chỉ là “nghe để đó”(!).
Thứ hai, pháp luật đã quy định Nhân dân được góp ý, kiểm tra, kiến nghị và giám sát. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 xác định thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, trong đó công dân được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến thông qua thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở. Luật đã quy định công dân có quyền kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với những quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đồng thời, quy định chính quyền cấp xã có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kịp thời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân cũng như kiến nghị của Ban Thanh tra Nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp phản ánh, kiến nghị của Nhân dân, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền và giám sát quá trình giải quyết.
Như vậy, bài viết cho rằng chỉ có “tiếp nhận thông tin một chiều”, rồi nghi ngờ việc “dân giám sát” chỉ là “nghe để đó” là phiến diện, thiếu cơ sở.
Thứ ba, chúng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, có biện pháp để thực hiện giám sát thực chất, hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy, thời gian qua ở một số nơi, có thời điểm, việc tiếp nhận, xử lý ý kiến của Nhân dân còn chậm; đối thoại chưa sâu; việc phản hồi có lúc chưa kịp thời; hoạt động giám sát, phản biện xã hội có nơi còn hình thức. Tuy nhiên, từ Trung ương đến các địa phương đã nhìn nhận rõ hạn chế, bất cập và có sự điều chỉnh, khắc phục kịp thời. Vừa qua, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 20/7/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới. Trong đó, tiếp tục nhấn mạnh quan điểm “Dân là gốc”, xác định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đặt yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Cùng với đó, Quốc hội đang tiếp tục xem xét sửa đổi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong năm 2026 đã cho thấy đây là lĩnh vực luôn được hoàn thiện để quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện thực chất hơn. Ở nhiều địa phương, hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã được triển khai đối với nhiều công trình, dự án; các ban giám sát phát hiện vấn đề, gửi kiến nghị đến các cơ quan liên quan. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn được gắn với việc theo dõi kết quả giải quyết kiến nghị, v.v. Đây chính là minh chứng khẳng định rằng, giám sát hoàn toàn không phải là cơ chế dân chủ “hình thức”, ngược lại, Đảng, Nhà nước ta thường xuyên bổ sung, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Như vậy, giám sát thực chất không phải là người dân nói càng nhiều càng tốt, cũng không phải cán bộ nghe càng nhiều càng thể hiện dân chủ. Cốt lõi nằm ở việc ý kiến của Nhân dân được tiếp nhận đúng quy định, được xem xét bằng trách nhiệm, được phản hồi, theo dõi việc giải quyết; qua đó, góp phần kiểm soát quyền lực, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin và tăng cường đồng thuận xã hội. Bởi vậy, không thể từ một số hạn chế trong thực hiện để phủ nhận cơ chế đã được Hiến pháp, pháp luật và các quy định của Đảng xác lập. Càng không thể đánh tráo giữa “lắng nghe” với “giám sát”, giữa một khâu của quy trình với toàn bộ quy trình, rồi quy kết rằng quyền giám sát của Nhân dân chỉ là “tiếp nhận thông tin một chiều”, “nghe để đó”./.
Oct 1, 2026
Nhận diện và bác bỏ luận điệu “chính trị hóa” Gen Z
Trên trang Boxitvn, Nguyễn Quang A đưa ra quan điểm cho rằng những phản ứng, tranh luận và bày tỏ quan điểm của một bộ phận giới trẻ hiện nay là biểu hiện của một “căn tính chính trị” mới. Cách nhìn này đã cố tình nâng một số biểu hiện xã hội trên không gian mạng thành một hiện tượng chính trị mang tính đại diện cho cả thế hệ Gen Z. Đây là cách diễn giải phiến diện, thiếu căn cứ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ chính trị hóa tiếng nói của giới trẻ, khai thác những tâm lý, nguyện vọng chính đáng của thanh niên để phục vụ những mục đích không xuất phát từ nhu cầu phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ.
Thứ
nhất,
không thể đánh đồng những biểu hiện xã hội
đa dạng của Gen Z với một “căn tính chính trị” thống nhất. Gen Z là thế hệ
trưởng thành trong môi trường internet, mạng xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học, công nghệ. Vì vậy, họ có phương thức tiếp cận thông tin, giao tiếp và
thể hiện quan điểm nhanh chóng, trực tiếp và đa chiều hơn. Việc một bộ phận người
trẻ quan tâm đến các vấn đề xã hội, đặt câu hỏi, phản biện, bày tỏ chính kiến
hay tham gia tranh luận trên không gian mạng là biểu hiện bình thường của đời sống
xã hội hiện đại. Đó trước hết là nhu cầu được tham gia, được thể hiện chính kiến
và khẳng định trách nhiệm của người trẻ đối với những vấn đề mà họ quan tâm. Điều
cần bác bỏ là từ những biểu hiện đó suy diễn thành một “căn tính chính trị”
chung của cả Gen Z.
Đây là sự đánh đồng giữa một thế hệ xã hội
với một lực lượng chính trị và giữa những biểu hiện cá nhân với một xu hướng
chính trị thống nhất. Gen Z không phải một tổ chức, phong trào hay lực lượng
chính trị có chung mục tiêu, hệ tư tưởng và phương thức hành động. Đây là một
thế hệ rất đa dạng về hoàn cảnh sống, nghề nghiệp, trình độ, lợi ích, trải nghiệm
và nhận thức. Trong cùng một vấn đề, những người trẻ hoàn toàn có thể có những
quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Do đó, lấy tiếng nói của một bộ phận người
trẻ trên mạng xã hội để đại diện cho cả thế hệ rồi gán cho họ một “căn tính
chính trị” mới là một phép khái quát hóa thiếu cơ sở khoa học. Muốn xác định sự
hình thành một xu hướng hay lực lượng chính trị phải dựa trên những bằng chứng
về tính ổn định của nhận thức, sự thống nhất tương đối về mục tiêu, giá trị, tổ
chức và phương thức hành động, chứ không thể chỉ dựa vào một số hiện tượng truyền
thông hoặc những cuộc tranh luận nhất thời trên không gian mạng.
Thứ
hai,
chính trị hóa tiếng nói của Gen Z là sự lợi
dụng tiếng nói chính đáng của giới trẻ; cần chủ động ngăn chặn việc kích động,
dẫn dắt và cực đoan hóa nhận thức của thanh niên. Cần khẳng định rằng, tôn
trọng tiếng nói của người trẻ không có nghĩa là phủ nhận những khác biệt trong
quan điểm của họ. Thanh niên có quyền quan tâm, bày tỏ suy nghĩ, kiến nghị và
tham gia các hoạt động xã hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Một xã
hội phát triển cần tạo điều kiện để người trẻ phát huy trí tuệ, sáng tạo và
tinh thần trách nhiệm.
Vì vậy, đấu tranh với việc lợi dụng Gen
Z hoàn toàn không đồng nghĩa với việc phủ nhận tiếng nói của Gen Z. Ngược lại,
chính vì tiếng nói của giới trẻ có sức lan tỏa lớn trên không gian mạng nên nó
có thể trở thành đối tượng bị khai thác, thao túng. Một vấn đề xã hội cụ thể có
thể bị tách khỏi bối cảnh; thông tin chưa kiểm chứng có thể được khuếch đại; cảm
xúc bức xúc của một bộ phận người trẻ có thể bị đẩy thành tâm lý đám đông. Từ
đó, một số chủ thể có thể từng bước chuyển hướng sự quan tâm của thanh niên từ
phản ánh một vấn đề cụ thể sang nhìn nhận xã hội theo tư duy đối đầu, cực đoan;
từ phản biện sang phủ định; từ bất đồng quan điểm sang kích động chia rẽ.
Do đó, cần đặc biệt cảnh giác với thủ đoạn
“đánh đồng – gán ghép – dẫn dắt”: Trước hết đánh đồng tiếng nói của một bộ phận
với toàn bộ Gen Z; tiếp đó gán cho Gen Z một “căn tính chính trị” chung; cuối
cùng sử dụng chính căn tính được gán ghép ấy để dẫn dắt người trẻ theo những mục
tiêu chính trị nhất định. Đây không phải là sự “khám phá” một hiện tượng chính
trị mới như cách Nguyễn Quang A mô tả, mà có thể trở thành một phương thức
chính trị hóa và công cụ hóa tiếng nói của thanh niên.
Vấn đề đặt ra không phải là ngăn cản người
trẻ lên tiếng, mà là giúp họ lên tiếng trên cơ sở thông tin đúng đắn, tư duy độc
lập, trách nhiệm công dân và thượng tôn pháp luật. Gen Z cần được trang bị khả
năng kiểm chứng nguồn tin, nhận diện thông tin sai lệch, phân biệt phản biện có
căn cứ với xuyên tạc, không chạy theo tâm lý đám đông và không để cảm xúc nhất
thời bị lợi dụng để dẫn tới những hành động cực đoan. Đồng thời, cần tạo môi
trường thuận lợi để thế hệ trẻ phát huy năng lực trong học tập, nghiên cứu, lao
động, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khởi nghiệp, hoạt động xã hội và bảo vệ
Tổ quốc. Khi được tin tưởng, lắng nghe và tạo điều kiện cống hiến, sức trẻ và
trí tuệ của Gen Z sẽ trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.
Tóm lại, Nguyễn
Quang A cho rằng những phản ứng và tranh luận của một bộ phận giới trẻ là biểu
hiện của một “căn tính chính trị” mới của Gen Z là một cách khái quát hóa thiếu
căn cứ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ chính trị hóa và công cụ hóa tiếng nói của
thanh niên. Gen Z là một thế hệ đa dạng, năng động và sáng tạo, chứ không phải
một lực lượng chính trị thống nhất. Vì vậy, cần kiên quyết bác bỏ cách đánh đồng
tiếng nói của một bộ phận với cả thế hệ, bác bỏ việc gán ghép cho Gen Z một
“căn tính chính trị” được định nghĩa từ bên ngoài; chủ động nhận diện và đấu
tranh với mọi hành vi lợi dụng tâm lý, khát vọng và sức lan tỏa của giới trẻ để
kích động, phân cực và dẫn dắt theo hướng cực đoan./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)
Sep 30, 2026
Việc làm rất cần thiết để siết chặt kỷ cương hoạt động báo chí
Tre Việt - Ngày 30/9, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài viết của Lê Tự Do với tiêu đề: “Đưa tin tiêu cực có phải là “làm ảnh hưởng hình ảnh quốc gia”?”. Trong bài viết, Lê Tự Do đặt câu hỏi: “Ranh giới nào giữa việc phản ánh trung thực bất cập xã hội để xây dựng và hành vi “làm xấu hình ảnh quốc gia”?”, rồi quy chụp: “Dần dần, tiếng nói phản biện xã hội của báo chí sẽ yếu đi. Một nền báo chí chỉ toàn đưa tin “màu hồng”, né tránh góc khuất sẽ vô tình đánh mất lòng tin của độc giả”, mục đích chính là nhằm kích động, xuyên tạc nội dung Nghị định số 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Như thông tin được biết, ngày
25/9/2026, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 367/2026/NĐ-CP quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, gồm 4 Chương, 41 Điều,
có hiệu lực từ ngày 26/9/2026.
Nghị định mới điều chỉnh toàn diện các
hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục
hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong
hoạt động báo chí in, báo điện tử, phát thanh và truyền hình, v.v.
Trong đó, Nghị định đã quy định mức phạt
tiền tối đa và nguyên tắc xử phạt rất nghiêm minh. Căn cứ theo Điều 5 của Nghị
định, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực báo chí được ấn định ở mức,
như sau: tổ chức vi phạm: phạt tiền tối đa lên đến 500 triệu đồng; cá
nhân vi phạm: phạt tiền tối đa lên đến 250 triệu đồng. Trường hợp cá
nhân thực hiện cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức
phạt tiền đối với tổ chức. Đồng thời, theo quy định tại Điều 4, thời hiệu xử phạt
vi phạm hành chính đối với toàn bộ các hành vi vi phạm trong lĩnh vực báo chí
là 02 năm kể từ ngày hành vi vi phạm chấm dứt hoặc được phát hiện.
Một nội dung quan trọng là Nghị định đã
quy định xử lý nghiêm hành vi thông tin sai sự thật và “giật tít”, câu view làm
sai lệch bản chất. Một trong những điểm trọng tâm nhận được sự quan tâm đặc biệt
của toàn xã hội và giới làm nghề là chế tài xử lý nghiêm khắc đối với các hành
vi phát tán thông tin không đúng sự thật. Theo Điều 14, các khung phạt tiền được
phân cấp rõ ràng theo mức độ ảnh hưởng của hành vi. Phạt tiền từ 10.000.000
đồng đến 20.000.000 đồng: áp dụng đối với hành vi đăng, phát thông tin sai sự
thật gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến
80.000.000 đồng: áp dụng khi hành vi đăng tải thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống, trật tự xã hội hoặc uy tín, danh dự của cơ quan, tổ
chức, cá nhân. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng: áp dụng
đối với trường hợp thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.
Đặc biệt, để ngăn chặn triệt để tình trạng
“bẫy bạn đọc” bằng các chiêu trò giật gân, thiếu chuẩn mực, quy định xử phạt từ 10.000.000
đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi minh họa, đặt tiêu đề bài viết
không phù hợp với nội dung thông tin làm cho người đọc hiểu sai nội dung thực tế.
Ngoài phạt tiền, cơ quan báo chí vi phạm còn buộc phải thực hiện các biện pháp
khắc phục hậu quả nghiêm ngặt như cải chính, xin lỗi công
khai và gỡ bỏ ngay thông tin vi phạm.
Các quy định trong Nghị định còn thể hiện
sự mạnh tay để xử phạt báo chí “chui” và quản lý chặt chẽ mạng lưới liên kết.
Theo đó, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương hành chính và ngăn chặn các hành vi
lách luật, giả mạo cơ quan truyền thông, khoản 5 Điều 11 của Nghị định quy
định mức phạt tiền rất nặng từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối
với hành vi hoạt động báo chí in, báo chí điện tử, phát thanh hoặc truyền hình
mà không có giấy phép hoạt động báo chí do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
cấp theo luật định.
Bên cạnh đó, mô hình liên kết sản xuất nội
dung trên các nền tảng mạng xã hội và không gian mạng cũng được đưa vào khuôn
khổ giám sát chặt chẽ. Cụ thể, khoản 1 Điều 25 quy định mức phạt từ 10.000.000
đồng đến 20.000.000 đồng đối với kênh liên kết không hiển thị rõ ràng tên
gọi, biểu tượng (logo) của cơ quan báo chí hoặc thông tin về hợp đồng liên kết
sản xuất nội dung.
Cùng với đó, Nghị định cũng xác định rõ
các quy định nhằm bảo vệ hoạt động tác
nghiệp hợp pháp, trừng trị việc mạo danh, trục lợi nghề nghiệp. Văn bản thể hiện
rõ tính công bằng và toàn diện khi vừa bảo vệ quyền tác nghiệp chính đáng của
nhà báo, vừa siết chặt đạo đức nghề nghiệp. Theo Điều 12, cá nhân mạo danh nhà
báo, phóng viên sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Hành vi lợi dụng danh nghĩa, tư cách nhà báo, phóng viên để sách nhiễu, trục lợi
phi pháp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt từ 30.000.000
đồng đến 50.000.000 đồng. Ngược lại, Điều 13 quy định mức phạt từ 20.000.000
đồng đến 30.000.000 đồng đối với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có hành vi cản
trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của phóng viên, nhà báo; mức phạt nâng
lên từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nếu có hành vi thu giữ
trái phép phương tiện, trang thiết bị tác nghiệp hoặc tài liệu hoạt động báo
chí.
Như vậy, văn bản pháp lý quan trọng
này được ban hành là rất cần thiết, kịp thời, nhằm
cụ thể hóa và triển khai đồng bộ cùng các quy định tiến bộ tại Luật Báo chí năm
2025, cũng như Nghị định số 237/2026/NĐ-CP, ngày 26/6/2026 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí. Với hàng loạt quy
định điều chỉnh thực tế, văn bản này được xem là công cụ pháp lý sắc bén để siết chặt kỷ cương hoạt động báo chí, góp phần
chuẩn hóa hoạt động báo chí, nâng cao trách nhiệm giải trình và bảo đảm môi trường
thông tin minh bạch, lành mạnh./.








