Oct 16, 2026

Bác bỏ suy luận phiến diện về tự do và pháp luật ở Việt Nam

        Tre Việt - “Không có tự do thì luật pháp chỉ là mệnh lệnh của kẻ cướp” là tiêu đề bài viết của Nhật Ngôn đăng trên trang facebook Việt Nam Thời Báo mới đây. Trong đó, đưa ra những nhận định, như: pháp luật Việt Nam chỉ là “mệnh lệnh của một đảng được hợp thức hóa”, hay “Đảng vừa viết luật, vừa thi hành, vừa xét xử”, v.v. Đây là những suy luận hoàn toàn phiến diện, thiếu cơ sở, quy kết bản chất của pháp luật và tổ chức quyền lực nhà nước, nhằm chống phá sự nghiệp xây dựng, phát triển của Việt Nam, cần bị vạch trần, bác bỏ.
        Trước hết, cần khẳng định rằng tự do là giá trị quan trọng của con người, nhưng tự do không đồng nghĩa với việc cá nhân được hành động tùy ý, bất chấp quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích chung của cộng đồng. Trong bất kỳ xã hội nào, việc thực hiện quyền tự do của mỗi người đều diễn ra trong những quan hệ xã hội cụ thể. Nếu không có các quy tắc chung để điều chỉnh hành vi, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm thì tự do của người này có thể trở thành sự xâm phạm tự do của người khác.
        Vì vậy, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là phương tiện xác lập, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền tự do. Pháp luật quy định những giới hạn cần thiết đối với hành vi của mỗi chủ thể, đồng thời đặt ra trách nhiệm đối với cơ quan công quyền, tạo cơ sở để người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Một hệ thống pháp luật có chất lượng phải vừa bảo đảm trật tự, kỷ cương, vừa tôn trọng quyền con người, quyền công dân; vừa xác định nghĩa vụ, trách nhiệm, vừa ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực.
        Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập những nguyên tắc nền tảng về vấn đề này. Điều 2 khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Còn tại Điều 3 đã quy định: Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đặc biệt, Điều 14 quy định: Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; việc hạn chế các quyền này chỉ được thực hiện theo quy định của luật trong những trường hợp cần thiết. 
        Những quy định trên cho thấy, trong khuôn khổ pháp lý Việt Nam, tự do không bị phủ nhận mà được hiến định, bảo vệ và gắn với trách nhiệm của Nhà nước. Do đó, đặt tự do đối lập tuyệt đối với pháp luật, hoặc coi sự tồn tại của những quy định bắt buộc là bằng chứng cho thấy tự do không hiện hữu, là cách tiếp cận thiếu khách quan, toàn diện. 
        Trong bài viết còn cho rằng: pháp luật Việt Nam chỉ là “mệnh lệnh của một đảng được hợp thức hóa”. Cách diễn giải này chưa phân biệt đầy đủ giữa vai trò lãnh đạo chính trị, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế tổ chức thi hành pháp luật của Nhà nước. Bởi: Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đồng thời, Hiến pháp quy định Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. 
        Như vậy, việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng không đồng nghĩa với việc đồng nhất Đảng với toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước hoặc cho rằng mọi hoạt động xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật đều do một chủ thể duy nhất trực tiếp tiến hành. Trong thực tiễn thể chế, chủ trương, đường lối của Đảng định hướng quá trình hoạch định chính sách; việc thể chế hóa thành pháp luật được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Các văn bản quy phạm pháp luật phải được xem xét theo thẩm quyền ban hành, hình thức, nội dung và trình tự, thủ tục tương ứng.
        Cùng với đó, trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, cùng các sửa đổi, bổ sung có liên quan đã quy định khuôn khổ pháp lý về xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý để xem xét quá trình chuyển hóa chính sách thành quy tắc xử sự chung, thay vì chỉ dựa vào nhận định rằng pháp luật là sự hợp thức hóa ý chí của Đảng. 
        Mặt khác, cần đánh giá pháp luật qua nội dung và tác động thực tế của nó đối với đời sống xã hội: quyền và nghĩa vụ của người dân được xác lập ra sao; lợi ích hợp pháp được bảo vệ như thế nào; cơ quan công quyền phải chịu những ràng buộc gì; cơ chế khiếu nại, tố cáo, xét xử và giám sát được thực hiện đến đâu. Đây mới là những tiêu chí cụ thể để nhận diện chất lượng và hiệu lực của một hệ thống pháp luật. Thực tế trong xã hội Việt Nam, mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, có quyền tham gia quản lý, giám sát, phản biện xã hội, quyền khiếu nại, tố cáo cùng nhiều quyền tự do cơ bản khác. 
        Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ những suy luận trong bài viết trên là hoàn toàn phiến diện, không có cơ sở, quy chụp nên sẽ không dẫn dụ, lừa gạt được ai và những âm mưu, ý đồ chống phá của chúng nhất định sẽ thất bại./.


Tự do ngôn luận phải đi cùng trách nhiệm

         Nghị định số 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí có hiệu lực từ ngày 26/9/2026. Ngay sau khi được ban hành, văn bản này trở thành mục tiêu công kích của một số tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí. Cùng với việc diễn giải suy diễn hòng làm sai lệch nội dung nghị định, có ý kiến còn vu cáo đây là biện pháp “bóp nghẹt tự do báo chí”. Tuy nhiên, muốn đánh giá đúng bản chất của một văn bản pháp luật, cần căn cứ những quy định cụ thể, đặt trong hệ thống pháp luật hiện hành và xem xét đầy đủ cả quyền, nghĩa vụ lẫn trách nhiệm của các chủ thể liên quan.

Ảnh: Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí tác nghiệp
tại một sự kiện đối ngoại quốc phòng

Nghị định 367 quy định hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực báo chí. Văn bản này cụ thể hóa chế tài theo Luật Báo chí số 126/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Chi tiết đang bị các trang mạng phản động, thiếu thiện chí khai thác nhiều nhất là mức phạt tiền tối đa 500 triệu đồng đối với tổ chức, 250 triệu đồng đối với cá nhân cho mỗi hành vi vi phạm. Trang “Chân trời mới Media” vu cáo rằng Nghị định 367 là “công cụ mới” để bóp nghẹt tự do báo chí, biến báo chí thành kênh tuyên truyền một chiều. Một số đối tượng rêu rao mức phạt cao sẽ khiến các tòa soạn sợ hãi, tự kiểm duyệt; quy kết rằng quy định có thể dùng để xử lý tùy tiện những tiếng nói trái chiều. Có đối tượng còn đem chuẩn mực của nước ngoài ra làm thước đo để rồi kết luận Việt Nam đang siết chặt báo chí.

Điểm chung của các nhận định này là cố tình xoáy vào số tiền xử phạt mà phớt lờ các nội dung khác trong văn bản. Đối chiếu với chính nghị định, có thể thấy trước hết, 500 triệu đồng là mức trần, không phải mức phạt chung.

Điều 14 của Nghị định, quy định về vi phạm trong đăng, phát nội dung thông tin, chia thành 9 khung tiền phạt, thấp nhất từ 5 - 10 triệu đồng. Đăng, phát thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng bị phạt 10 - 20 triệu đồng; gây ảnh hưởng nghiêm trọng 60 - 80 triệu đồng; rất nghiêm trọng 80 - 100 triệu đồng.

Khung 400 - 500 triệu đồng chỉ áp dụng cho 2 nhóm hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Thông tin gây ảnh hưởng đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; thông tin gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc.

Thứ hai, Nghị định không tự đặt ra điều cấm mới. Những hành vi chịu khung phạt cao nhất được dẫn chiếu trực tiếp đến Điều 8, Luật Báo chí năm 2025. Các quy định này phù hợp với Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp năm 2013: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Giới hạn cụ thể do Quốc hội xác lập bằng luật, nghị định quy định ra chế tài hành chính tương ứng. Người bị xử phạt có quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Thứ ba, trong danh mục hành vi bị xử phạt về nội dung thông tin, không có hành vi nào là phản biện chính sách, phản ánh tiêu cực, mà chỉ xử lý với việc bịa đặt, vu khống, đưa tin sai sự thật. Phát hiện bất cập, phản ánh điều người dân quan tâm là chức năng của báo chí. Dĩ nhiên, với những khái niệm có phạm vi diễn giải rộng, việc áp dụng phải dựa trên chứng cứ, đúng thẩm quyền và nhất quán giữa các vụ việc. Đó là đòi hỏi chính đáng đối với cơ quan thực thi, song không thể vin vào đó để xuyên tạc rằng văn bản được ban hành nhằm bịt miệng báo chí.

Thứ tư, có một phần trong Nghị định mà các đối tượng phản động, cực đoan cố tình không nhắc tới, đó là những quy định bảo vệ nhà báo và bảo vệ người dân trước sai phạm của báo chí. Tại Điều 13, hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của nhà báo, phóng viên bị phạt 20 - 30 triệu đồng; thu giữ trái phép phương tiện, tài liệu tác nghiệp 30 - 50 triệu đồng; xúc phạm nhà báo đang tác nghiệp, cố ý làm hư hỏng phương tiện 50 - 70 triệu đồng; đe dọa, uy hiếp tính mạng nhà báo, phóng viên 70 - 100 triệu đồng.

Theo Nghị định số 119/2020/NĐ-CP của Chính phủ trước đây, mức cao nhất cho nhóm hành vi này là 60 triệu đồng. Đồng thời tại Điều 14, cơ quan báo chí bị phạt nếu quy kết tội danh khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án, không đăng ý kiến phản hồi của tổ chức, cá nhân liên quan, tiết lộ bí mật đời tư hoặc làm lộ danh tính người tố cáo.

Việc các đối tượng cố tình khai thác mức tiền phạt trong Nghị định 367, bị đẩy thành câu chuyện “đàn áp” tự do ngôn luận, tự do báo chí, trước hết nhằm gieo tâm lý e dè, đề phòng trong đội ngũ làm báo, tách người làm báo khỏi cơ quan quản lý. Tiếp đó là tạo cớ: mỗi lần Việt Nam ban hành một văn bản về báo chí hay không gian mạng, lập tức những đối tượng này lớn tiếng lu loa, xuyên tạc, dẫn ra như những “dẫn chứng” cụ thể, để rồi từ đó biến thành dữ liệu, căn cứ cho những bản phúc trình, bảng xếp hạng thiếu khách quan về tự do báo chí, làm căn cứ vận động gây sức ép từ bên ngoài. Sâu xa hơn, khi coi mọi chế tài đối với tin giả, xuyên tạc lịch sử là vi phạm tự do ngôn luận, họ đang đòi một vùng miễn trừ pháp lý cho chính loại thông tin ấy.

Trong khi đó, nhu cầu về thông tin chính xác chưa bao giờ lớn như hiện nay. Hình ảnh, giọng nói, video do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra ngày càng khó phân biệt với tư liệu thật; một tin sai có thể làm tổn hại danh dự một con người, uy tín một doanh nghiệp trước khi sự thật kịp được làm rõ. Phóng viên bỏ hàng tháng trời điều tra, xác minh không thể bị đánh đồng với những nơi giật tít câu khách, dựng chuyện sai sự thật. Xử lý nghiêm vi phạm cũng là bảo vệ uy tín của những người làm nghề tử tế.

Khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mà Việt Nam gia nhập năm 1982, nêu rõ việc thực hiện quyền tự do ngôn luận kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, có thể phải chịu một số hạn chế do luật định để tôn trọng quyền, uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.

Ở Đức, Điều 130, Bộ luật Hình sự xử lý hành vi kích động thù hận, phủ nhận hoặc hạ thấp tội ác của chủ nghĩa quốc xã, với hình phạt đến 5 năm tù. Pháp có Luật Gayssot năm 1990 trừng phạt việc phủ nhận tội ác chống loài người. Luật An toàn trực tuyến năm 2023 của Anh cho phép phạt doanh nghiệp vi phạm đến 18 triệu bảng Anh hoặc 10% số doanh thu toàn cầu. Ngay tại Hoa Kỳ, nơi Tu chính án thứ nhất bảo vệ tự do ngôn luận rất mạnh, tháng 4/2023 Fox News vẫn phải chấp nhận trả 787,5 triệu USD để dàn xếp vụ kiện phỉ báng của Công ty Dominion Voting Systems liên quan thông tin sai về bầu cử.

Mỗi nước có hệ thống pháp luật riêng, nhưng các thí dụ nêu trên cho thấy không nơi nào coi tự do ngôn luận là quyền phát ngôn vô giới hạn.

Điều 25, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân. Đó là quyền hiến định, không phải sự ban phát, và Nghị định 367 không thu hẹp quyền ấy. Người được lợi từ một nền báo chí có kỷ cương chính là công chúng, bởi họ được tiếp cận một môi trường thông tin văn minh, lành mạnh, nhân văn, được bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)

 

Oct 14, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc, cổ xúy “thay đổi thể chế chính trị” ở Việt Nam

         Trên trang Tinhoathinhdon, bút danh Tin Hoa Thịnh Đốn đăng bài viết “Việt Nam sẽ chọn mô hình chính trị nào nếu có thay đổi thể chế”, trong đó đưa ra nhiều nhận định suy diễn, xuyên tạc về tình hình chính trị Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cổ xúy cho việc hình thành lực lượng đối lập và thay đổi thể chế chính trị. Những luận điệu này cần được nhận diện rõ và bác bỏ trên cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn phát triển của đất nước.
        Thứ nhất, bác bỏ luận điệu suy diễn, cổ xúy thay đổi thể chế và áp đặt mô hình chính trị từ bên ngoài. Bài viết cố tình dựng lên những kịch bản thiếu căn cứ về “thay đổi thể chế ở Việt Nam”, thậm chí suy diễn khả năng Đảng Cộng sản Việt Nam “bị xóa sổ” do tranh chấp nội bộ, tham nhũng hay khủng hoảng kinh tế. Đáng chú ý, từ những suy diễn đó, tác giả hướng người đọc tới việc lựa chọn một mô hình chính trị khác, đồng thời kêu gọi các “nhóm dân chủ” và “nhà hoạt động xã hội” hình thành mặt trận thống nhất để thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”. Cách lập luận này không phải là phân tích khoa học về thể chế mà là sự lồng ghép giữa giả định chính trị với mục đích định hướng nhận thức, từ đó tạo tâm lý hoài nghi về tính chính danh và tính ổn định của hệ thống chính trị Việt Nam.
        Cần khẳng định rằng, mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội và quá trình phát triển riêng; vì vậy, không thể lấy mô hình chính trị của quốc gia này làm khuôn mẫu để áp đặt cho quốc gia khác. Việc một nước tổ chức hệ thống chính trị theo mô hình đa đảng hay một mô hình khác không mặc nhiên đồng nghĩa với việc mô hình đó phù hợp với mọi quốc gia. Điều quan trọng là thể chế phải được đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể, đáp ứng yêu cầu quản trị đất nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và phù hợp với mục tiêu phát triển mà quốc gia lựa chọn.
        Đối với Việt Nam, thể chế chính trị hiện hành được xác lập trong Hiến pháp và gắn với quá trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước cũng như công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Điều 4 Hiến pháp quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời xác định Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Do đó, đặt vấn đề “Việt Nam sẽ chọn mô hình nào nếu thay đổi thể chế” rồi từ đó cổ xúy mô hình chính trị ngoại lai thực chất đã bỏ qua một vấn đề căn bản: Thể chế chính trị Việt Nam không phải sản phẩm của một quyết định nhất thời, càng không phải mô hình có thể tùy tiện thay thế theo sự áp đặt từ bên ngoài. Những đề xuất hướng tới đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập cần được nhìn nhận trong tổng thể lịch sử và thực tiễn Việt Nam, thay vì được trình bày như một “giải pháp tất yếu” cho sự phát triển của đất nước.
        Thứ hai, thực tiễn 40 năm đổi mới bác bỏ cách nhìn phiến diện, phủ nhận con đường phát triển và những thành tựu của Việt Nam. Một trong những điểm thiếu thuyết phục của bài viết là lấy những giả định về “khủng hoảng kinh tế”, “bất ổn chính trị – xã hội” để suy diễn về khả năng thay đổi thể chế, trong khi không đưa ra được hệ thống bằng chứng tương xứng để chứng minh cho những dự báo đó. Trái lại, thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Ngân hàng Thế giới đánh giá các cải cách từ khi Đổi mới năm 1986 đã góp phần đưa Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất trở thành nền kinh tế thu nhập trung bình; GDP bình quân đầu người tăng mạnh và tỷ lệ dân số sống dưới ngưỡng nghèo giảm đáng kể.
        Những số liệu gần đây tiếp tục cho thấy nền kinh tế Việt Nam duy trì đà phát triển. Theo dữ liệu Ngân hàng Thế giới, GDP Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 514,7 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 5.066 USD và tăng trưởng GDP đạt 8,02%. Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2025 thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều khoảng 1,3%, giảm 1 điểm phần trăm so với năm trước.
        Những kết quả trên không có nghĩa Việt Nam không còn khó khăn, hạn chế hay những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Trái lại, chính quá trình phát triển đặt ra yêu cầu phải thường xuyên đổi mới phương thức quản lý, hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng tăng trưởng, kiểm soát tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội. Nhưng từ sự tồn tại của những vấn đề đó để suy diễn thành “khủng hoảng thể chế”, rồi tiếp tục đi đến kết luận cần thay đổi mô hình chính trị, là cách lập luận thiếu cơ sở, trái với thực tiễn Việt Nam.
        Tóm lại, bài viết của Tin Hoa Thịnh Đốn đã dựa trên những giả định thiếu căn cứ để suy diễn về khả năng thay đổi thể chế ở Việt Nam, đồng thời cổ xúy mô hình chính trị ngoại lai và hình thành lực lượng đối lập. Những luận điệu đó không phản ánh đầy đủ cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn phát triển của Việt Nam. Cần tỉnh táo nhận diện, kiên quyết bác bỏ những thông tin xuyên tạc; đồng thời chủ động cung cấp thông tin chính xác, khách quan về quá trình đổi mới, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu phát triển của đất nước, góp phần củng cố nhận thức đúng đắn và sự đồng thuận xã hội./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Oct 12, 2026

Quan điểm “lấy dân làm gốc” là chân lí không thể bôi nhọ, xuyên tạc

        Mới đây, trang mạng phản động Thongluan đã đăng tải bài viết có tiêu đề “Đảng cộng sản Việt Nam lấy dân làm gốc hay làm guốc”. Đây là bài viết xuyên tạc, phủ nhận quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quy chụp cho Đảng Cộng sản Việt Nam “đặt lợi ích cai trị lên trên quyền lợi nhân dân”, “lấy dân làm gốc để phục vụ Đảng” và “bóp nghẹt tự do tôn giáo, dân chủ”. Mục đích của bài viết nhằm bôi nhọ lãnh tụ, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
        1. Không thể xuyên tạc quan điểm “lấy dân làm gốc” thành “lợi dụng dân”. Có thể khẳng định, bài viết trên trang Thongluan.blog đã cố tình xuyên tạc, bôi nhọ Đảng Và Chủ tịch Hồ Chí Minh khi cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam và ông Hồ Chí Minh lấy dân làm gốc chỉ là để phục vụ Đảng, mượn danh nhân dân nhằm củng cố địa vị độc tôn cầm quyền và đặt lợi ích của Đảng lên trên quyền lợi của nhân dân”. Đây là một luận điệu vô cùng độc hại, đổi trắng thay đen, xúc phạm trực tiếp đến bản chất cách mạng của Đảng và danh dự của lãnh tụ dân tộc.
        Sự nguy hiểm của luận điệu này nằm ở chỗ, nó cố tình đánh tráo bản chất lý luận, sử dụng chiêu bài ngụy biện tinh vi để gieo rắc sự hoài nghi, tạo tâm lý ly khai, đối lập giữa Đảng với nhân dân. Thủ đoạn đen tối là cắt xén, bóp méo các khái niệm kinh điển, lợi dụng một số hạn chế, thiếu sót cục bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức để quy chụp cho bản chất của toàn bộ hệ thống, biến mối quan hệ “máu thịt” khăng khít giữa Đảng và đân thành mối quan hệ “cai trị và bị trị” theo mô hình chính trị tư sản phương Tây. 
        Tuy nhiên, mọi mưu đồ đê hèn hòng phân rã, chặt đứt sợi dây liên hệ máu thịt giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân đều sẽ bị nghiền nát trước chân lý lịch sử. Sự đồng nhất tuyệt đối giữa lợi ích của Đảng và vận mệnh của nhân dân không phải là thứ lý thuyết nằm trên giấy mực, mà đã được khắc bằng xương, viết bằng máu của hàng triệu anh hùng liệt sĩ qua những chặng đường trường chinh giữ nước. Thực tế chứng minh, nếu Đảng chỉ ích kỷ mưu cầu lợi ích riêng, không vì nhân dân, tại sao hàng vạn đảng viên cộng sản lại kiên cường bước lên đoạn đầu đài, biến các “địa ngục trần gian” Côn Đảo, Phú Quốc thành trường học cách mạng mà không một lời khuất phục.  
        Đây là là chứng khẳng định, vai trò và quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng không phải do tự phong, không phải sự “áp đặt” hay “lợi dụng” mà là sự giao phó, ủy thác thiêng liêng bằng cả tính mạng và niềm tin sắt đá của toàn thể dân tộc Việt Nam.
        2. Bóc trần thủ đoạn vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam “độc tài, bóp nghẹt các quyền tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Bên cạnh việc bóp méo lý luận, bài viêt còn điên cuồng tung ra luận điệu vu khống, đổi trắng thay đen về mặt thực tiễn khi cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam phân biệt, tiêu diệt các thành phần đối lập, dùng các biện pháp cưỡng ép dân trong thiên tai, dịch bệnh và bóp nghẹt các quyền tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Đây là sự vu cáo hết sức trơ trẽn, vô liêm sỉ, nhằm trực tiếp bôi nhọ các chính sách an sinh xã hội và hệ thống luật pháp của Nhà nước ta.
        Thủ đoạn xảo quyệt của bài viết này là sử dụng kỹ nghệ “truyền thông đen” một cách đê hèn, cố tình “thổi phồng” các hiện tượng đơn lẻ, nhào nặn và bóp méo thông tin nhằm quy chụp thành bản chất chủ trương của Đảng. Đây là chiêu trò lừa bịp, núp bóng dưới vỏ bọc mỹ miều như “bảo vệ nhân quyền” hay “tự do tôn giáo” hòng đổi trắng thay đen, biến những kẻ tội đồ chà đạp lên pháp luật, những phần tử phản quốc hại dân thành “nạn nhân bị đàn áp”. 
        Thực chất của âm mưu thâm độc này là công kích, phá hoại sự ổn định chính trị, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, tiến tới mục tiêu bao vây, cô lập và hạ thấp uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Thế nhưng, toàn bộ trò hề dựng chuyện ấy đều bị nghiền nát trước thực tiễn sinh động của đất nước. Minh chứng rõ nhất là trong thử thách từ đại dịch hay thiên tai khốc liệt, triết lý nhân văn “không để ai bị bỏ lại phía sau” đã được hiện thực hóa bằng việc hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, y bác sĩ đảng viên sẵn sàng xả thân nơi tuyến đầu để bảo vệ tính mạng nhân dân, cùng hàng chục nghìn tỷ đồng ngân sách được chi ra để bảo đảm an sinh xã hội. 
        Bên cạnh đó, đời sống tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú, đa dạng, hàng nghìn cơ sở thờ tự được trùng tu và các đại lễ tôn giáo lớn được tổ chức công khai, an toàn cho hàng triệu tín đồ. Vì vậy, việc Nhà nước xử lý nghiêm trị những phần vu khống Đảng “dồn ép lòng dân”, lợi dụng tôn giáo, núp bóng “dân chủ, nhân quyền” để phá hoại an ninh quốc gia là trách nhiệm thượng tôn pháp luật tất yếu nhằm bảo vệ sự bình yên cho nhân dân.
        Tóm lại, bài viết trên trang Thongluan đã xuyên tạc trắng trợn quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng và Chủ tịch Hồ chi Minh. Các luận điệu bài viết đưa ra nhằm cố tình bóp méo nội hàm quan điểm “lấy dân làm gốc”, dựng lên sự đối lập giả tạo giữa Đảng và nhân dân. Qua đây, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải tỉnh táo, nâng cao tinh thần cảnh giác và tư duy phản biện khi tiếp cận thông tin mạng, tuyệt đối không chia sẻ, không tiếp tay phát tán bài viết từ trang phản động, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội và bảo vệ thành quả phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Oct 9, 2026

Vạch trần sự đánh tráo khái niệm, phủ nhận giá trị của Tuyên ngôn Độc lập

         Tre Việt - Ngày 05/10, trang Facebook Việt Nam Thời Báo tán phát bài viết: “Suy rộng ra - cú lừa vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc” của Nhật Ngôn. Trong bài viết có đoạn: Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 không phải là văn bản giải phóng con người, giành tự do, độc lập cho cá nhân. Nó là một cuộc lừa đảo được tính toán tinh vi, v.v. Đây là hành động đánh tráo khái niệm, cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận giá trị của Tuyên ngôn Độc lập, cần bị vạch trần, đấu tranh bác bỏ.
Thứ nhất, về cơ sở lý luận. Cần khẳng định rằng quan điểm nhất quát, xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, mang lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân; trong đó, độc lập dân tộc chính là điều kiện tiên quyết để một dân tộc và mỗi con người thực hiện quyền tự do, quyền dân chủ của mình. Nhưng độc lập dân tộc không đồng nghĩa với việc ngay lập tức giải quyết đầy đủ mọi vấn đề về quyền cá nhân, mà cần căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước. 
        Trên thực tế, sau khi giành được độc lập, đất nước ta phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài, tình thế như “ngàn cân treo sợi tóc”. Vì thế, cách suy luận: “Độc lập mà người dân vẫn làm nô lệ - đó không phải độc lập” của Nhật Ngôn là cố tình nhìn nhận thiếu khách quan về tình hình đất nước tại thời điểm; cố tình xuyên tạc, lấy một tiêu chí về mức độ thực hiện quyền và tự do trong đời sống xã hội để phủ định chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của dân tộc.
Thứ hai, về cơ sở lịch sử. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột, cai trị của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do cho dân tộc, được đánh dấu mốc là Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mà Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 chính là văn kiện tuyên bố sự ra đời của một quốc gia độc lập; đồng thời, khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lại những tư tưởng về quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp là một lập luận chính trị - pháp lý có tính phổ quát: nếu các dân tộc Mỹ, Pháp được thừa nhận quyền tự do, bình đẳng thì dân tộc Việt Nam cũng có quyền ấy. 
        Trong bài viết, Nhật Ngôn dùng từ “Suy rộng ra” là cố tình tách riêng với mạch lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập để suy diễn đó là “cú lừa” là hoàn toàn xuyên tạc, phi lý.
        Thứ ba, về cơ sở pháp lý. Quyền dân tộc tự quyết là sự khẳng định độc lập, chủ quyền, là điều kiện bảo đảm quyền con người, cơ sở bảo đảm tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Trên thực tế, Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng như các văn kiện của Đảng, đều quy định rõ về quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Trong suốt quá trình phát triển đất nước, Việt Nam luôn khẳng định và thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn với xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
        Mặt khác, quyền dân tộc tự quyết cũng không phải khái niệm do Việt Nam tự đặt ra. Đây là một nguyên tắc quan trọng của luật pháp quốc tế, được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và nhiều văn kiện quốc tế. Bởi vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn quyền con người với quyền dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không những không trái với tư tưởng tiến bộ của nhân loại mà còn thể hiện tầm nhìn chính trị sâu sắc về mối quan hệ giữa quyền của cá nhân và quyền của cộng đồng dân tộc.
        Thứ tư, về cơ sở thực tiễn. Sau hơn 81 năm kể từ ngày 02/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta từ nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhân dân Việt Nam trực tiếp tham gia Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã đồng cam, cộng khổ thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đã thu được những thành tự to lớn, đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, hội nhập quốc tế,... ngày càng phát triển, đời sống Nhân dân được nâng cao, khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 
        Cùng với đó, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm bảo đảm và thực thi các quyền dân sự, chính trị của công dân. Thực tiễn đời sống xã hội ở Việt Nam là một bức tranh sinh động, mọi công dân đều được tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tín ngưỡng,... được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và là minh chứng đanh thép khẳng định rằng: Ở Việt Nam, độc lập dân tộc đã trở thành nền tảng để phát triển con người, chứ không phải là “khẩu hiệu được dựng lên để lừa dân”.
        Vì thế, luận điệu mà Nhật Ngôn đã đề cập trong bài viết là cố tình đánh tráo khái niệm để xuyên tạc, chống phá, cần bị vạch trần, bác bỏ./.

Oct 8, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Trần Đông A về Nghị quyết số 23

         Tre Việt – Ngày 24/9, trên các trang mạng phản động, như: Tiếng Dân, Việt Tân, Việt Nam Thời Báo,… đồng loạt đăng bài viết của Trần Đông A với tiêu đề: “Nghị quyết 23: Bình cũ, rượu càng cũ hơn?”, kích động, rêu rao rằng: “một chính sách được xây dựng trên những tiền đề cũ rất khó tạo ra một kết quả mới”. Đây là chiêu trò xuyên tạc trắng trợn nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV); xuyên tạc chính sách hòa hợp, hòa giải của Đảng, Nhà nước ta, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói chuyện
với các kiều bào tiêu biểu về dự Hội nghị người Việt Nam
ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ IV và Diễn đàn Tri thức,
chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài 

Cần khẳng định, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV) về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (viết gọn là Nghị quyết 23) đã kế thừa và phát triển Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời, có sự gắn kết, liên thông với các văn bản chỉ đạo chiến lược khác trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế, phù hợp với bối cảnh mới, phản ánh đầy đủ hơn vị thế, tiềm lực, trí tuệ, uy tín và khả năng đóng góp ngày càng lớn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Nội dung Nghị quyết 23 không thay đổi nền tảng tư tưởng của Nghị quyết, mà kế thừa toàn diện tinh thần đại đoàn kết dân tộc và phát triển lên một bước mới. Tư tưởng bao trùm của Nghị quyết 23 khẳng định: người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và nhấn mạnh, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Đây là bước phát triển mới trong nhận thức khi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận là một cấu phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sức mạnh của Việt Nam giờ đây không chỉ được đo bằng những nguồn lực hiện hữu trong lãnh thổ quốc gia mà còn bao gồm nguồn lực trí tuệ, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và quan hệ quốc tế của hơn 6,5 triệu đồng bào trên khắp thế giới. Với vị thế đó, người Việt Nam ở nước ngoài vừa là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, vừa là lực lượng đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 23 đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, nâng tầm tư duy từ “vận động, tập hợp, chăm lo” lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào hành trình hội nhập, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước, Chính phủ trong việc hoàn thiện các thể chế, cơ chế và chính sách để thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài.

Về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết 23 có 03 điểm mới, nhấn mạnh nhiệm vụ phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Về mục tiêu, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy các nguồn lực chiến lược của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh thái khởi nghiệp, v.v.

Về phương thức huy động nguồn lực, thay vì chủ yếu vận động, thu hút các cá nhân riêng lẻ, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái toàn cầu để kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài. Việc đóng góp của kiều bào cũng được mở rộng và linh hoạt hơn, không chỉ thông qua trở về nước làm việc trực tiếp mà còn thể hiện từ xa dưới nhiều hình thức phù hợp, hiệu quả.

Về mức độ tham gia của kiều bào, Nghị quyết chuyển từ định hướng khuyến khích đồng bào đóng góp xây dựng quê hương, đất nước sang tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu rộng hơn vào quá trình phát triển đất nước thông qua góp ý xây dựng chủ trương, chính sách, tham gia các chương trình phát triển quốc gia, tổ chức chính trị - xã hội phù hợp cũng như các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, Nghị quyết đề cao vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; không chỉ là cầu nối hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước mà còn là lực lượng góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Nghị quyết khẳng định, kiều bào là lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, các hoạt động lợi dụng người Việt Nam ở nước ngoài để chống phá đất nước.

Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài là “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam”, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của cộng đồng tại nước sở tại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế. Đây là bước phát triển mới trong tư duy khi chuyển từ mục tiêu chủ yếu gìn giữ bản sắc văn hóa, ngôn ngữ mẹ đẻ, sang phát huy văn hóa như một nguồn lực và công cụ của sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị quyết cũng khuyến khích, hỗ trợ người Việt Nam có năng lực tham gia các tổ chức quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, Nghị quyết dành sự quan tâm đặc biệt, hỗ trợ thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết sâu sắc và gắn bó bền vững với quê hương, đất nước thông qua công tác giáo dục, các hoạt động trải nghiệm, về nguồn, học tập, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tình nguyện và giao lưu nhân dân.

Như vậy, Nghị quyết 23 là một quyết sách lớn của Đảng, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đó không phải “bình cũ, rượu càng cũ hơn”, và cũng hoàn toàn trái ngược với luận điệu “một chính sách được xây dựng trên những tiền đề cũ rất khó tạo ra một kết quả mới” của Trần Đông A xuyên tạc, rêu rao.

Vì thế, luận điệu xuyên tạc, kích động trắng trợn này cần bị lật tẩy và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.

 

Oct 6, 2026

Không thể nào chia cắt tinh thần “tình dân tộc - nghĩa đồng bào”

         Nghị quyết số 23-NQ/TW. ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết 23) đã khẳng định tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Đông đảo cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đón nhận thông điệp ấy như lời mời cùng chung tay xây dựng đất nước. Thế nhưng, một số tổ chức, cá nhân chống đối ở nước ngoài lại ra sức bóp méo, gọi đó là “chiêu bài”, là “thủ đoạn”, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tham dự sự kiện văn hóa nghệ thuật
“Việt Nam: Hành trình Tổ quốc qua điện ảnh và âm nhạc”
và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ.
        Vừa qua, trong chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, ngày 21/9 vừa qua tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tham dự sự kiện văn hóa nghệ thuật “Việt Nam: Hành trình Tổ quốc qua điện ảnh và âm nhạc” và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở đây. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ: “Trong cộng đồng có nhiều thế hệ, nhiều hoàn cảnh và nhiều cách nhìn khác nhau về lịch sử. Tuy nhiên, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đó là chân lý không bao giờ thay đổi”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kêu gọi cộng đồng khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc vì đây không chỉ là mong muốn mà là trách nhiệm của thế hệ chúng ta với thế hệ mai sau.
        Những lời lẽ chân thành ấy, cũng như chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài lập tức bị một số tổ chức, cá nhân cực đoan, phản động tìm cách xuyên tạc, công kích. Các đối tượng cho rằng hòa hợp dân tộc chỉ là “bình cũ, rượu cũ”; đồng thời rêu rao, sau hơn 50 năm, việc Việt Nam vẫn phải tiếp tục kêu gọi hòa giải là lỗi của thể chế. Lập luận này mặc nhiên coi hòa hợp như một việc làm một lần là xong. Các đối tượng cố tình tách rời tuyên bố vừa qua của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khỏi quá trình xây dựng và thực hiện chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài suốt nhiều năm qua để cho rằng lời kêu gọi bây giờ là quá muộn. Trong khi đó, những kẻ chỉ trích thông điệp là vô nghĩa vốn đang thuộc các tổ chức nhiều năm nay lấy việc khơi lại hận thù làm lý do tồn tại và cơ hội trục lợi.
        Luận điệu thứ hai cho rằng, Nhà nước chỉ nhìn người Việt ở nước ngoài như một “nguồn lực” gồm tiền, chất xám, công nghệ, bị Nhà nước khai thác. Song Nghị quyết 23 nhấn mạnh người Việt Nam ở nước ngoài trước hết là “bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, sau đó mới là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng”. Nghị quyết còn đặt mục tiêu giúp bà con có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng ở nước sở tại. Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói rõ: việc trở về hay tiếp tục làm việc ở nước ngoài “là lựa chọn gắn với nghề nghiệp, gia đình và hoàn cảnh của mỗi người. Đảng, Nhà nước tôn trọng những lựa chọn đó”.
        Khi không thể phủ nhận chủ trương đúng đắn này, các đối tượng cố tình xuyên tạc mục đích, động cơ của Nghị quyết 23 là một “chiến lược thâm nhập” nhằm tác động tới cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây là cáo buộc vô căn cứ. Nghị quyết yêu cầu công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Những nhiệm vụ nghị quyết đề ra, từ dạy tiếng Việt, kết nối trí thức, doanh nhân đến bảo hộ công dân, đều thực hiện công khai và dựa trên sự tự nguyện của bà con.
        Hơn 6,5 triệu người Việt ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có rất nhiều trí thức, doanh nhân thành đạt, đủ hiểu biết để tự quyết định mình gắn bó và đóng góp với quê hương bằng những cách thức phù hợp. 
        Mặt khác, các đối tượng còn dùng thủ pháp đánh tráo khái niệm. Khai thác nội dung “một bộ phận nhỏ người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, thậm chí có hành động phá hoại mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và các nước sở tại, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam”, các đối tượng quy kết Nhà nước “phân loại”, “phân biệt đối xử”; chỉ chấp nhận những ý kiến “phù hợp”... Khi cơ quan chức năng xử lý người vi phạm pháp luật, các đối tượng lập tức lu loa Việt Nam “đàn áp người khác chính kiến”.
        Thực tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng sự khác biệt về quan điểm phát triển kinh tế, văn hóa, việc góp ý xây dựng thể chế luôn được ghi nhận và tiếp thu qua các diễn đàn, hội nghị. Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu cần có đầu mối liên hệ rõ ràng để kiều bào tiếp tục gửi góp ý sau cuộc gặp, và mong có những cuộc trao đổi cởi mở. Tuy nhiên, cần xác định ranh giới pháp luật giữa “bất đồng chính kiến” và “hành vi chống phá, xâm phạm an ninh quốc gia”. Pháp luật Việt Nam không có tội danh nào dành cho việc góp ý, phản biện; người bị xử lý hình sự là người có hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Nguyên tắc này không riêng gì Việt Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tại Điều 19, thừa nhận quyền tự do ngôn luận có thể bị giới hạn bằng luật để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng. 
        Hòa hợp dân tộc đã được Đảng, Nhà nước ta kiên định thực hiện từ những ngày đầu lập nước. Ngày 31/5/1946, trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ trước khi lên đường sang thăm nước Pháp và dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”.
        Lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã được khắc ghi và thực hành qua các giai đoạn lịch sử. Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc. Năm 2004, Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài yêu cầu: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”. Nghị quyết 23 kế thừa tinh thần đó đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “gác lại quá khứ”; công tác vận động, chăm lo chuyển mạnh sang đồng hành, tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia những việc lớn của đất nước.
        Gác lại quá khứ không có nghĩa là quên lịch sử, buộc ai phải từ bỏ ký ức của mình hay xóa đi những khác biệt về hoàn cảnh, trải nghiệm, quan điểm. Điều cốt lõi ở đây là tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích quốc gia - dân tộc, để quá khứ không còn là rào cản. Tinh thần này được chính người Việt Nam ở nước ngoài đón nhận, đánh giá cao. Ông David Nguyễn, người Việt tại Hoa Kỳ ghi nhận: “Nghị quyết 23 thể hiện một tư duy phát triển cởi mở và chủ động hơn rất nhiều. Tôi hiểu rất rõ cái giá của sự chia rẽ. Tinh thần xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai không phải là chối bỏ lịch sử mà là sự dũng cảm vượt qua nỗi đau để sống cho hiện tại và tương lai của con cháu. Một dân tộc biết bao dung, vượt qua hận thù để nắm tay nhau là một dân tộc hùng cường”. Ông Nguyễn Hoài Bắc, Chủ tịch Hội doanh nhân Việt Nam - Canada, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ: “Chúng ta hòa hợp, hòa giải dân tộc để chúng ta trở lại cuộc sống bình yên. Chúng ta không quên lịch sử, nhưng không đào bới bởi vết thương đã lành thì đừng làm nó hư lại”.
        Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đại hội XIV và đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, xác định: người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nghị quyết thể hiện sự nâng tầm tư duy chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới, người Việt Nam ở nước ngoài được đặt vào vị trí trung tâm, được bảo vệ quyền lợi hợp pháp và được tạo điều kiện tốt nhất để cống hiến cho dân tộc.
        Trong sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại. Nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế phải được kết nối. Nguồn lực vật chất phải đi cùng với nguồn lực trí tuệ. Sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước phải được gắn với sức mạnh của 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc trên khắp thế giới để cùng nhau chung tay vun đắp tương lai./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)


Oct 2, 2026

Không thể phủ nhận việc thực thi quyền giám sát của Nhân dân

        Tre Việt - Mới đây, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng tải bài viết: “Nói đi đôi với làm và câu chuyện giám sát người đứng đầu”, trong đó cố tình đồng nhất hoạt động “dân giám sát” với việc “tiếp nhận thông tin một chiều từ dưới lên”, “nghe để đó”, “lắng nghe hình thức”. Đây là cách nhìn phiến diện, đánh tráo giữa một khâu của quá trình giám sát với bản chất của cơ chế giám sát, giữa hạn chế trong tổ chức thực hiện với chủ trương, pháp luật về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, cần bị vạch trần, bác bỏ. 

        Trước hết, cần khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Hiến pháp năm 2013 đã xác định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Đáng chú ý, tại Điều 8 đã quy định rõ: cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng giám sát, phản biện xã hội.

        Trong Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ, mục đích của giám sát là góp phần phát hiện sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. 

        Như vậy, với quy trình chặt chẽ, từ theo dõi - phát hiện - xem xét - đánh giá - kiến nghị không thể đồng nhất thành “tiếp nhận thông tin một chiều”. Càng không thể vì một số ít trường hợp giải quyết kiến nghị chưa kịp thời rồi quy chụp toàn bộ cơ chế “dân giám sát” chỉ là “nghe để đó”(!).

        Thứ hai, pháp luật đã quy định Nhân dân được góp ý, kiểm tra, kiến nghị và giám sát. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 xác định thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, trong đó công dân được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến thông qua thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở. Luật đã quy định công dân có quyền kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với những quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đồng thời, quy định chính quyền cấp xã có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kịp thời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân cũng như kiến nghị của Ban Thanh tra Nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp phản ánh, kiến nghị của Nhân dân, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền và giám sát quá trình giải quyết. 

        Như vậy, bài viết cho rằng chỉ có “tiếp nhận thông tin một chiều”, rồi nghi ngờ việc “dân giám sát” chỉ là “nghe để đó” là phiến diện, thiếu cơ sở.

        Thứ ba, chúng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, có biện pháp để thực hiện giám sát thực chất, hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy, thời gian qua ở một số nơi, có thời điểm, việc tiếp nhận, xử lý ý kiến của Nhân dân còn chậm; đối thoại chưa sâu; việc phản hồi có lúc chưa kịp thời; hoạt động giám sát, phản biện xã hội có nơi còn hình thức. Tuy nhiên, từ Trung ương đến các địa phương đã nhìn nhận rõ hạn chế, bất cập và có sự điều chỉnh, khắc phục kịp thời. Vừa qua, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 20/7/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới. Trong đó, tiếp tục nhấn mạnh quan điểm “Dân là gốc”, xác định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đặt yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

        Cùng với đó, Quốc hội đang tiếp tục xem xét sửa đổi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong năm 2026 đã cho thấy đây là lĩnh vực luôn được hoàn thiện để quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện thực chất hơn. Ở nhiều địa phương, hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã được triển khai đối với nhiều công trình, dự án; các ban giám sát phát hiện vấn đề, gửi kiến nghị đến các cơ quan liên quan. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn được gắn với việc theo dõi kết quả giải quyết kiến nghị, v.v. Đây chính là minh chứng khẳng định rằng, giám sát hoàn toàn không phải là cơ chế dân chủ “hình thức”, ngược lại, Đảng, Nhà nước ta thường xuyên bổ sung, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động này.

        Như vậy, giám sát thực chất không phải là người dân nói càng nhiều càng tốt, cũng không phải cán bộ nghe càng nhiều càng thể hiện dân chủ. Cốt lõi nằm ở việc ý kiến của Nhân dân được tiếp nhận đúng quy định, được xem xét bằng trách nhiệm, được phản hồi, theo dõi việc giải quyết; qua đó, góp phần kiểm soát quyền lực, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin và tăng cường đồng thuận xã hội. Bởi vậy, không thể từ một số hạn chế trong thực hiện để phủ nhận cơ chế đã được Hiến pháp, pháp luật và các quy định của Đảng xác lập. Càng không thể đánh tráo giữa “lắng nghe” với “giám sát”, giữa một khâu của quy trình với toàn bộ quy trình, rồi quy kết rằng quyền giám sát của Nhân dân chỉ là “tiếp nhận thông tin một chiều”, “nghe để đó”./.


Oct 1, 2026

Nhận diện và bác bỏ luận điệu “chính trị hóa” Gen Z

            Trên trang Boxitvn, Nguyễn Quang A đưa ra quan điểm cho rằng những phản ứng, tranh luận và bày tỏ quan điểm của một bộ phận giới trẻ hiện nay là biểu hiện của một “căn tính chính trị” mới. Cách nhìn này đã cố tình nâng một số biểu hiện xã hội trên không gian mạng thành một hiện tượng chính trị mang tính đại diện cho cả thế hệ Gen Z. Đây là cách diễn giải phiến diện, thiếu căn cứ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ chính trị hóa tiếng nói của giới trẻ, khai thác những tâm lý, nguyện vọng chính đáng của thanh niên để phục vụ những mục đích không xuất phát từ nhu cầu phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ.

Thứ nhất, không thể đánh đồng những biểu hiện xã hội đa dạng của Gen Z với một “căn tính chính trị” thống nhất. Gen Z là thế hệ trưởng thành trong môi trường internet, mạng xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Vì vậy, họ có phương thức tiếp cận thông tin, giao tiếp và thể hiện quan điểm nhanh chóng, trực tiếp và đa chiều hơn. Việc một bộ phận người trẻ quan tâm đến các vấn đề xã hội, đặt câu hỏi, phản biện, bày tỏ chính kiến hay tham gia tranh luận trên không gian mạng là biểu hiện bình thường của đời sống xã hội hiện đại. Đó trước hết là nhu cầu được tham gia, được thể hiện chính kiến và khẳng định trách nhiệm của người trẻ đối với những vấn đề mà họ quan tâm. Điều cần bác bỏ là từ những biểu hiện đó suy diễn thành một “căn tính chính trị” chung của cả Gen Z.

Đây là sự đánh đồng giữa một thế hệ xã hội với một lực lượng chính trị và giữa những biểu hiện cá nhân với một xu hướng chính trị thống nhất. Gen Z không phải một tổ chức, phong trào hay lực lượng chính trị có chung mục tiêu, hệ tư tưởng và phương thức hành động. Đây là một thế hệ rất đa dạng về hoàn cảnh sống, nghề nghiệp, trình độ, lợi ích, trải nghiệm và nhận thức. Trong cùng một vấn đề, những người trẻ hoàn toàn có thể có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.

Do đó, lấy tiếng nói của một bộ phận người trẻ trên mạng xã hội để đại diện cho cả thế hệ rồi gán cho họ một “căn tính chính trị” mới là một phép khái quát hóa thiếu cơ sở khoa học. Muốn xác định sự hình thành một xu hướng hay lực lượng chính trị phải dựa trên những bằng chứng về tính ổn định của nhận thức, sự thống nhất tương đối về mục tiêu, giá trị, tổ chức và phương thức hành động, chứ không thể chỉ dựa vào một số hiện tượng truyền thông hoặc những cuộc tranh luận nhất thời trên không gian mạng.

Thứ hai, chính trị hóa tiếng nói của Gen Z là sự lợi dụng tiếng nói chính đáng của giới trẻ; cần chủ động ngăn chặn việc kích động, dẫn dắt và cực đoan hóa nhận thức của thanh niên. Cần khẳng định rằng, tôn trọng tiếng nói của người trẻ không có nghĩa là phủ nhận những khác biệt trong quan điểm của họ. Thanh niên có quyền quan tâm, bày tỏ suy nghĩ, kiến nghị và tham gia các hoạt động xã hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Một xã hội phát triển cần tạo điều kiện để người trẻ phát huy trí tuệ, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm.

Vì vậy, đấu tranh với việc lợi dụng Gen Z hoàn toàn không đồng nghĩa với việc phủ nhận tiếng nói của Gen Z. Ngược lại, chính vì tiếng nói của giới trẻ có sức lan tỏa lớn trên không gian mạng nên nó có thể trở thành đối tượng bị khai thác, thao túng. Một vấn đề xã hội cụ thể có thể bị tách khỏi bối cảnh; thông tin chưa kiểm chứng có thể được khuếch đại; cảm xúc bức xúc của một bộ phận người trẻ có thể bị đẩy thành tâm lý đám đông. Từ đó, một số chủ thể có thể từng bước chuyển hướng sự quan tâm của thanh niên từ phản ánh một vấn đề cụ thể sang nhìn nhận xã hội theo tư duy đối đầu, cực đoan; từ phản biện sang phủ định; từ bất đồng quan điểm sang kích động chia rẽ.

Do đó, cần đặc biệt cảnh giác với thủ đoạn “đánh đồng – gán ghép – dẫn dắt”: Trước hết đánh đồng tiếng nói của một bộ phận với toàn bộ Gen Z; tiếp đó gán cho Gen Z một “căn tính chính trị” chung; cuối cùng sử dụng chính căn tính được gán ghép ấy để dẫn dắt người trẻ theo những mục tiêu chính trị nhất định. Đây không phải là sự “khám phá” một hiện tượng chính trị mới như cách Nguyễn Quang A mô tả, mà có thể trở thành một phương thức chính trị hóa và công cụ hóa tiếng nói của thanh niên.

Vấn đề đặt ra không phải là ngăn cản người trẻ lên tiếng, mà là giúp họ lên tiếng trên cơ sở thông tin đúng đắn, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân và thượng tôn pháp luật. Gen Z cần được trang bị khả năng kiểm chứng nguồn tin, nhận diện thông tin sai lệch, phân biệt phản biện có căn cứ với xuyên tạc, không chạy theo tâm lý đám đông và không để cảm xúc nhất thời bị lợi dụng để dẫn tới những hành động cực đoan. Đồng thời, cần tạo môi trường thuận lợi để thế hệ trẻ phát huy năng lực trong học tập, nghiên cứu, lao động, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khởi nghiệp, hoạt động xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Khi được tin tưởng, lắng nghe và tạo điều kiện cống hiến, sức trẻ và trí tuệ của Gen Z sẽ trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Tóm lại, Nguyễn Quang A cho rằng những phản ứng và tranh luận của một bộ phận giới trẻ là biểu hiện của một “căn tính chính trị” mới của Gen Z là một cách khái quát hóa thiếu căn cứ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ chính trị hóa và công cụ hóa tiếng nói của thanh niên. Gen Z là một thế hệ đa dạng, năng động và sáng tạo, chứ không phải một lực lượng chính trị thống nhất. Vì vậy, cần kiên quyết bác bỏ cách đánh đồng tiếng nói của một bộ phận với cả thế hệ, bác bỏ việc gán ghép cho Gen Z một “căn tính chính trị” được định nghĩa từ bên ngoài; chủ động nhận diện và đấu tranh với mọi hành vi lợi dụng tâm lý, khát vọng và sức lan tỏa của giới trẻ để kích động, phân cực và dẫn dắt theo hướng cực đoan./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Sep 30, 2026

Việc làm rất cần thiết để siết chặt kỷ cương hoạt động báo chí

        Tre Việt - Ngày 30/9, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài viết của Lê Tự Do với tiêu đề: “Đưa tin tiêu cực có phải là “làm ảnh hưởng hình ảnh quốc gia”?”. Trong bài viết, Lê Tự Do đặt câu hỏi: “Ranh giới nào giữa việc phản ánh trung thực bất cập xã hội để xây dựng và hành vi “làm xấu hình ảnh quốc gia”?”, rồi quy chụp: “Dần dần, tiếng nói phản biện xã hội của báo chí sẽ yếu đi. Một nền báo chí chỉ toàn đưa tin “màu hồng”, né tránh góc khuất sẽ vô tình đánh mất lòng tin của độc giả”, mục đích chính là nhằm kích động, xuyên tạc nội dung Nghị định số 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

       Như thông tin được biết, ngày 25/9/2026, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 367/2026/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, gồm 4 Chương, 41 Điều, có hiệu lực từ ngày 26/9/2026.

Nghị định mới điều chỉnh toàn diện các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí in, báo điện tử, phát thanh và truyền hình, v.v.

Trong đó, Nghị định đã quy định mức phạt tiền tối đa và nguyên tắc xử phạt rất nghiêm minh. Căn cứ theo Điều 5 của Nghị định, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực báo chí được ấn định ở mức, như sau: tổ chức vi phạm: phạt tiền tối đa lên đến 500 triệu đồng; cá nhân vi phạm: phạt tiền tối đa lên đến 250 triệu đồng. Trường hợp cá nhân thực hiện cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức. Đồng thời, theo quy định tại Điều 4, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với toàn bộ các hành vi vi phạm trong lĩnh vực báo chí là 02 năm kể từ ngày hành vi vi phạm chấm dứt hoặc được phát hiện.

Một nội dung quan trọng là Nghị định đã quy định xử lý nghiêm hành vi thông tin sai sự thật và “giật tít”, câu view làm sai lệch bản chất. Một trong những điểm trọng tâm nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội và giới làm nghề là chế tài xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi phát tán thông tin không đúng sự thật. Theo Điều 14, các khung phạt tiền được phân cấp rõ ràng theo mức độ ảnh hưởng của hành vi. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng: áp dụng đối với hành vi đăng, phát thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng: áp dụng khi hành vi đăng tải thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, trật tự xã hội hoặc uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng: áp dụng đối với trường hợp thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.

Đặc biệt, để ngăn chặn triệt để tình trạng “bẫy bạn đọc” bằng các chiêu trò giật gân, thiếu chuẩn mực, quy định xử phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi minh họa, đặt tiêu đề bài viết không phù hợp với nội dung thông tin làm cho người đọc hiểu sai nội dung thực tế. Ngoài phạt tiền, cơ quan báo chí vi phạm còn buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm ngặt như cải chính, xin lỗi công khai và gỡ bỏ ngay thông tin vi phạm.

Các quy định trong Nghị định còn thể hiện sự mạnh tay để xử phạt báo chí “chui” và quản lý chặt chẽ mạng lưới liên kết. Theo đó, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương hành chính và ngăn chặn các hành vi lách luật, giả mạo cơ quan truyền thông, khoản 5 Điều 11 của Nghị định quy định mức phạt tiền rất nặng từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động báo chí in, báo chí điện tử, phát thanh hoặc truyền hình mà không có giấy phép hoạt động báo chí do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp theo luật định.

Bên cạnh đó, mô hình liên kết sản xuất nội dung trên các nền tảng mạng xã hội và không gian mạng cũng được đưa vào khuôn khổ giám sát chặt chẽ. Cụ thể, khoản 1 Điều 25 quy định mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với kênh liên kết không hiển thị rõ ràng tên gọi, biểu tượng (logo) của cơ quan báo chí hoặc thông tin về hợp đồng liên kết sản xuất nội dung.

Cùng với đó, Nghị định cũng xác định rõ các  quy định nhằm bảo vệ hoạt động tác nghiệp hợp pháp, trừng trị việc mạo danh, trục lợi nghề nghiệp. Văn bản thể hiện rõ tính công bằng và toàn diện khi vừa bảo vệ quyền tác nghiệp chính đáng của nhà báo, vừa siết chặt đạo đức nghề nghiệp. Theo Điều 12, cá nhân mạo danh nhà báo, phóng viên sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Hành vi lợi dụng danh nghĩa, tư cách nhà báo, phóng viên để sách nhiễu, trục lợi phi pháp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Ngược lại, Điều 13 quy định mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của phóng viên, nhà báo; mức phạt nâng lên từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nếu có hành vi thu giữ trái phép phương tiện, trang thiết bị tác nghiệp hoặc tài liệu hoạt động báo chí.

          Như vậy, văn bản pháp lý quan trọng này được ban hành là rất cần thiết, kịp thời, nhằm cụ thể hóa và triển khai đồng bộ cùng các quy định tiến bộ tại Luật Báo chí năm 2025, cũng như Nghị định số 237/2026/NĐ-CP, ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí. Với hàng loạt quy định điều chỉnh thực tế, văn bản này được xem là công cụ pháp lý sắc bén để siết chặt kỷ cương hoạt động báo chí, góp phần chuẩn hóa hoạt động báo chí, nâng cao trách nhiệm giải trình và bảo đảm môi trường thông tin minh bạch, lành mạnh./.