Jan 22, 2016

90% người Việt Nam không hiểu bài hát “Bắc kim thang cà lang bí rợ"

"Bắc kim thang cà lang bí rợ" có thể được coi là câu hát cửa miệng của tất cả chúng ta thời thơ ấu, thế nhưng mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó, thậm chí tôi dám cam đoan đến hơn 90% chúng ta hát sai câu hát này.
 

Bạn có bất ngờ khi biết sự thật chứ? (ảnh minh họa)
Bạn có bất ngờ khi biết sự thật chứ? (ảnh minh họa)

Trước khi tìm hiểu thế nào là “bắc kim thang, cà lang bí rợ”, tôi xin kể lại một câu chuyện cổ tích mà mình nghe được trong chuyến đi công việc tại Long Xuyên khoảng 5 năm trước.
Người kể câu chuyện này là một cụ bà khoảng gần 80 tuổi, tụ tập cháu chắt lại rồi vừa ngồi bỏm bẻm nhai trầu vừa kể chuyện. Chắc hẳn rằng nghe xong mọi người sẽ hiểu thêm về việc mà chúng ta đang bàn tới ở đây.
Chuyện kể như sau:
“Ngày xửa ngày xưa, ở một làng quê nọ, có hai người bạn làm nghề buôn bán cùng nhau. Một người đi soi đèn bắt ếch về đêm, còn anh kia thì chuyên đi bán dầu thắp đèn vào rạng sáng.
Nhà họ dựng trên một cù lao nhỏ ven sông, tách biệt với làng xóm, muốn đi vào chợ làng phải đi ngang một cây cầu khỉ vắt vẻo. Do hoàn cảnh đơn chiếc, nên hai anh cũng thân thiết với nhau.
Có lần vì mẹ già của anh bán ếch bệnh mà không có tiền chạy chữa nên qua đời, anh bán dầu liền bỏ tiền ra giúp đỡ ma chay mà không hề tính toán, vì thế mà anh bắt ếch càng quý trọng tình bạn của anh bán dầu.
Một đêm nọ, trong lúc đi làm việc, anh bắt ếch nghe tiếng kêu thảm thiết phát ra từ một cái bẫy trên đồng. Tính tò mò, anh lại mở ra coi thì phát hiện ra hai con chim le le và bìm bịp nằm trong bẫy, do chúng giành ăn với nhau mới bất cẩn rơi vào bẫy của con người.
Hai con chim ra sức năn nỉ anh bắt ếch mở bẫy tha cho mình, rồi hứa sẽ đền ơn báo đáp. Vốn là người có tính nhân từ, anh bắt ếch cũng xuôi lòng rồi giải thoát cho chúng.
Vài ngày sau, hai con chim cùng bay đến nhà anh bắt ếch để cảnh báo cho anh biết tai ương sắp đến. Chúng nghe được hai con ma da ở sông bàn với nhau rằng sẽ kéo chân anh bán dầu và anh bắt ếch, cho hai anh chết, thế mạng cho chúng để chúng được đầu thai.
Vì hai con ma này chết đã lâu, nếu trong 7 ngày không bắt được người thay thế sẽ bị hồn phách tứ tán, không được đầu thai nữa. Thêm vào đó, ma da cũng chỉ có thể bắt hai anh khi trời vừa rạng sáng, lúc anh bán dầu ra chợ và lúc anh bắt ếch về nhà, bởi vì khi mặt trời lên thì chúng không còn ma phép.
Ban đầu anh bắt ếch đem cớ sự nói anh cho bán dầu nghe, khuyên anh nên ở nhà, nghỉ bán một tuần lễ, nhưng anh bán dầu lại không tin, cho rằng đấy là mê tín vớ vẩn, trên đời không có ma, quỷ.
Theo lời le le và bìm bịp, anh bắt ếch viện cớ đến ngày cúng mẹ, gọi anh bán dầu qua nhà tiệc tùng ăn nhậu, chuốc cho anh say mèm đến mức sáng hôm sau không ra chợ bán được. Ngày kia lại lấy cớ sang nhà cảm ơn anh bán dầu đã giúp đỡ, lại bày tiệc ăn uống no say, trì hoãn việc đi ngang cây cầu kia.
Hôm ấy là ngày cuối cùng của thời hạn 7 ngày ma da bắt hồn, do say xỉn nhiều ngày liền nên anh bắt ếch ngủ quên. Anh bán dầu sực tỉnh vào sáng sớm, nhận ra mình đã bỏ buôn bán mấy ngày liền bèn nhanh chóng quẩy hàng ra chợ.
Do bước vội vàng qua cầu khỉ cheo leo, lại bị bọn ma da biến phép cho cầu trơn trượt nên sẩy chân rơi xuống nước mà chết. Anh bắt ếch vì tiếc thương bạn nhưng do còn sợ bọn ma da nên phải đợi hết một ngày sau mới dám vớt xác bạn lên mà làm ma chay.
Thấy ân nhân của mình đau lòng, le le và bìm bịp cũng bay đến, cất tiếng kêu thảm thiết như tiếng kèn trống đám ma để tiễn biệt một người chết oan”.
Chú bán dầu, qua cầu mà té. Đọc hết truyện cổ tích này thì có lẽ mọi người đều sáng tỏ vì sao trong bài đồng dao “Bắc kim thang” có 4 câu cuối là:
Chú bán ếch, ở lại làm chi.
Con le le đánh trống thổi kèn,
Con bìm bịp thổi tò tí te tò te.
Thực chất là để diễn tả lại câu chuyện cổ tích đề cao tình bạn và tính chất cứu vật vật trả ơn của người xưa.
Thế nên vấn đề còn lại nằm ở hai câu:
Bắc kim thang, cà lang bí rợ
Cột qua kèo, là kèo qua cột.
Ở câu đầu tiên, “cà, lang, bí rợ” là để chỉ cho 3 loại củ, quả có cùng một đặc tính là thuộc họ dây leo, trái cà, khoai lang và bí rợ. Đặc biệt với từ bí rợ, là một từ thuần chất của miền Nam, cũng đã nói lên xuất xứ của bài đồng dao này là từ miền Tây Nam bộ.
Nói đến “bắc kim thang” thì phải hiểu hơi “hàn lâm” một chút, là từ kim thang ở đây hiểu cho đúng phải là cái thang hình chữ KIM -金- tức là hình tam giác cân. Từ “kim tự tháp” cũng là bắt nguồn từ chữ “kim” này mà có, do chỉ hình dạng cái tháp của người Ai Cập cổ là hình tam giác cân.
Còn cái “kim thang” của con nít ngày xưa là do người lớn dùng hai thanh tre dài, bắt chéo vào nhau tạo thành một hình tam giác cân rồi cắm trên mặt đất, cách vài mét lại đặt một cái như vậy, tạo thành một hàng dài. Bản thân của cái kim thang này trở thành một cái cột (do không có cây cột dựng đứng giữa nên hai thanh tre chéo vào trở thành cột luôn). Những cái kim thang được nối vào nhau bởi cái “vì kèo” là những thanh tre chạy dọc theo giàn, cứ như thế tạo thành một giàn cốt là để cho cà, lang, bí rợ leo lên mà sinh sôi, phát triển.
Vậy “cột qua kèo, kèo qua cột” là chỉ mối quan hệ gắn bó vào nhau của hai vật thể. Cả câu “bắc kim thang, cà lang bí rợ, cột qua kèo, là kèo qua cột” cốt để miêu tả mối quan hệ keo sơn, quấn quít, gắn bó vào nhau của anh bán dầu và anh bán ếch ở bốn câu sau.
Cả bài đồng dao này được viết lại dựa trên câu chuyện cổ tích kia, nên cách lý giải cũng vì thế mà nên hiểu cho đúng. Tuy nhiên trải qua thời gian dài, người lớn không còn kiên nhẫn để giải thích cho con trẻ hiểu về truyện cổ tích kia, thế nên bài đồng dao “bắc kim thang” cứ thế mà lưu truyền, gây ra sự hoang mang, khó hiểu cho người nghe.
Bên cạnh đó, cũng còn nhiều lời bàn, tranh cãi xung quanh việc lý giải ý nghĩa cho bài đồng dao này. Điển hình là ông Nguyễn Hữu Hiệp ở An Giang đã phát biểu trong hội thảo khoa học tại trường Đại học Cần Thơ năm 2003, rằng hiểu cho đúng thì bài đồng dao này phải được hát là:
Bắt kim than, cà lang bí rợ
Cột quai chèo, chèo qua chèo lại,
Bắt ngựa ô, chạy vô vườn mít,
Hái lá mít, chùi đít ngựa ô.
Tuy nhiên cách giải thích này lại khập khiễng và vô cùng tối nghĩa, khó hiểu.
Vậy nên tôi mới mạn phép truy tìm nguồn gốc, đọc và thẩm định rồi giải thích để mọi người hiểu hơn về bài đồng dao này. Nếu mọi người thấy cách lý giải này là hợp lý thì nhớ đặng mà con cháu có hỏi, thì ta biết trả lời rằng vì sao trẻ con hay hát:
Bắc kim thang, cà lang bí rợ,
Cột qua kèo, là kèo qua cột…

Theo Đất Việt

Cách chữa 46 loại bệnh tật bằng mẹo không cần thuốc

1. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:
Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.
02. Mắt nhắm không khít:
Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.
03. Mũi nghẹt cứng:
Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán – từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.
04. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:
Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.
05. Bong gân, trật khớp cổ tay:
Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác – huyệt 100 – phản chiếu đúng cổ tay).
06. Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân:
Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.
07. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):
Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.
08. Gai gót chân:
Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.
09. Đầu gối đau nhức:
Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.
10. Bị táo bón lâu ngày:
Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút – khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.
Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!
11. Nhức đầu
a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.
b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.
c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.
d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.
e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.
f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.
g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.
h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.
i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.
k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.
l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.
k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.
12. Mất ngủ
Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn – đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.
13. Sình bụng (do ăn không tiêu)
Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!
14. Bí tiểu
Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật” trên sẽ tự biến rất nhanh!
15. Nấc cụt
Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:
a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).
b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!
c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!
16. Đau bụng
Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:
a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.
b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.
c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.
17. Đau tử cung:
a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.
b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.
18. Đau đầu dương vật:
Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.
19. Đau khớp háng:
Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.
20. Đau gót chân:
Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.
21. Đau bụng kinh:
Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.
22. Ho ngứa cổ:
a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.
b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phả chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.
23. Huyết áo cao:
Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.
24. Huyết áp thấp:
Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.
25. Huyết trắng:
Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.
26. Bế kinh:
Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.
27. Lẹo mắt (lên chắp)
Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.
28. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên)
Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.
a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.
b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.
29. Mắt không di động được
Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.
30. Đắng miệng
Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!
31. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)
Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.
32. Hắt hơi liên tục
Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).
33. Ho khan lâu ngày
Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.
34. Hóc (hạt trái cây, xương)
Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.
35. Các khớp ngón tay khó co duỗi
Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.
36. Mắt quầng thâm
Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.
37. Buồn ngủ nhíu mắt lại
Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.
38. Nhảy mũi
Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!
40. Quai bị
Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.
41. Nhức răng
Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.
42. Mắt đỏ
Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.
43. Mắt nhức
Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.
44. Mắt nháy (giật)
Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.
45. Tê lưỡi, cứng lưỡi
a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.
b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.
46. Khản tiếng
a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.
b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày

“HRW” ĐỪNG CÓ XÍA MÕM VÀO CÔNG VIỆC NGƯỜI KHÁC

Đồng tình với Tre Việt về bài viết: “Chiếc áo không làm nên thày tu”, bạn đọc Hoàng Trường gửi đến Tre Việt bài viết sau, xin giới thiệu cùng bạn đọc:

“HRW” ĐỪNG CÓ XÍA MÕM VÀO CÔNG VIỆC NGƯỜI KHÁC

 Ngày 19-01-2016 trên BBC có bài: HRW kêu gọi VN “chấm dứt độc đảng”. Trong đó, trích dẫn thông cáo của tổ chức này (HRW là tên viết tắt của cụm từ: Human Rights Watch - Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phi chính phủ quốc tế) kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam “nên nhân dịp Đại hội 12 ra tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do và công bằng để bầu ra các nhà lãnh đạo đất nước”. Đây là trò “dỗi hơi”, can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam của HRW.
Trước hết, cần khẳng định rằng, việc bầu cử ở Việt Nam hoàn toàn tự do, bình đẳng, được pháp luật quy định. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, ghi rõ: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” (Điều 7). “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định” (Điều 27). “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 29). 
Trên thực tế, việc thực hiện bầu cử tự do, bình đẳng, phổ thông đầu phiếu được Việt Nam thực hiện từ bầu cử Quốc hội khóa I (ngày 06-01-1946) cho đến nay. Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện giới thiệu đảng viên của mình ứng cử vào các chức danh để nhân dân lựa chọn. Mọi công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền tự do ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc bầu ai, đương nhiên thuộc quyền lựa chọn của cử tri. Các kỳ bầu cử của Việt Nam đều công khai, minh bạch có sự chứng kiến của các tổ chức, nhà báo quốc tế. Và, những đại biểu được nhân dân bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân luôn đề cao trách nhiệm, hoạt động hiệu quả, thực hiện đúng quy định pháp luật, tôn chỉ mục đích, với mục tiêu duy nhất là mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, phồn vinh cho đất nước. Điều này, lần nữa khẳng định, bầu cử ở Việt Nam hoàn toàn tự do, dân chủ, phù hợp với công ước, luật pháp quốc tế mà Việt Nam tham gia, không cần bầu cử “đa nguyên” như HRW “khuyên nhủ”!
Cũng trong thông cáo này, HRW kêu gọi “chấm dứt nền cai trị độc đảng” ở Việt Nam. Điều này đã lộ rõ mục đích, bộ mặt thật của HRW, không phải là tổ chức theo dõi nhân quyền đơn thuần mà muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó cho thấy, HRW cũng chẳng có “thành tâm” giúp Việt Nam phát triển, họ chỉ muốn khuấy cho đục nước để hưởng lợi; họ không hiểu, hoặc cố tình không hiểu lịch sử Việt Nam, không thấy được những gì Đảng Cộng sản Việt Nam làm được cho dân tộc Việt Nam, được nhân dân Việt Nam, quốc tế thừa nhận. HRW chịu khó “mở mắt” ra sẽ rõ.
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo dân tộc Việt Nam là tất yếu khách quan của lịch sử. Đó là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân, được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngược dòng lịch sử, trong thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc ở Việt Nam đã nhiều đảng phái hoạt động như một lẽ tự nhiên. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn đã quy tụ, lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, giành độc lập, tự do cho dân tộc, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đặt quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên trên hết, Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng, nhân sĩ, trí thức cùng tham gia lãnh đạo, quản lý đất nước. Song, trong quá trình cách mạng, các tổ chức đảng phái khác hoặc phản động, hoặc có đường lối không đúng đắn, không vì quyền lợi của quốc gia, dân tộc đã lần lượt bị chính nhân dân loại bỏ, chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân lựa chọn là chính đảng đại diện cho quyền lợi của mình.
Sau 1954, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương tổng tuyển cử tự do, thành lập chính phủ liên hiệp, thống nhất nước nhà, nhưng chính chính quyền Ngô Đình Diệm được sự bảo lãnh của Mỹ đã phản bội, thiết lập chế độ ngụy quyền ở miền Nam với sự tham gia của nhiều đảng phái. Các đảng phái đó đã chống lại nền độc lập dân tộc, đi ngược lại lợi của nhân dân lao động, nên nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng lên lật đổ chế độ đó, thống nhất đất nước. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân lựa chọn là người đại diện duy nhất cho quyền lợi của mình và cả dân tộc.
Bằng sự lãnh đạo sáng suốt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn trên nhiều phương diện. Những thành tựu đó được Liên hợp quốc công nhận, đánh giá cao, coi Việt Nam là hình mẫu trong thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ; thừa nhận chế độ chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhắc lại những điều này, lần nữa khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo dân tộc Việt Nam, là tất yếu khách quan của lịch sử, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất có đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam phát triển. Vậy HRW cũng không phải “xía” vào./.

Jan 21, 2016

CHIẾC ÁO KHÔNG LÀM NÊN THÀY TU

TRE VIỆT - Dưới tiêu đề: “HRW kêu gọi Việt Nam “chấm dứt độc đảng”, BBC tiếng Việt cho hay: hôm 19/01, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) phát đi thông cáo kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam “nên nhân dịp Đại hội XII ra tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do và công bằng để bầu ra các nhà lãnh đạo đất nước”. HRW luôn có ác cảm với Việt Nam, nên tổ chức này bị mù màu, không thấy hay cố tình không thấy “bầu cử tự do và công bằng” ở Việt Nam. Trong các cuộc bầu cử các cấp ở Việt Nam đều có các nhà quan sát quốc tế, qua các lần bầu cử họ đều thừa nhận tính khách quan, dân chủ, công bằng ở Việt Nam. Tất nhiên để có các ứng viên, ở Việt Nam cũng như các nước khác đều có sự lựa chọn, giới thiệu từ cơ sở để lựa chọn người có đủ tiêu chí đề cử để công dân có quyền lựa chọn bằng lá phiếu của mình. Đó là thực tế khách quan không thể phủ nhận! Thế mà HRW lại dỗi hơi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Như vậy, chính “Tổ chức Theo dõi Nhân quyền này” lại vi phạm “quốc quyền” - quyền tự quyết của các dân tộc. Điều 1 hai công ước: Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên hợp quốc đều khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị và tự do theo đuổi đường lối phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của mình”. Vậy thì hà cớ gì HRW lại “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam “bầu cử đa nguyên ở Việt Nam để chấm dứt nền cai trị độc đảng” (!). Việc một đảng hay nhiều đảng là tùy thuộc vào nhu cầu, thực tiễn của mỗi nước, không tổ chức hay nước nào có thể can thiệp. Chẳng nhẽ HRW không biết sao? hay đó là sự thiếu văn hóa khi can thiệp thô bạo vào công việc nước khác của Tổ chức này!
Ông Brad Adams, Giám đốc khu vực châu Á của HRW còn thô thiển cho rằng: “Tương lai của hơn 90 triệu người dân Việt Nam không thể để cho một nhóm nhỏ quan chức Đảng Cộng sản quyết định”(!). Tay Giám đốc này chỉ xằng bậy. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Việc lãnh đạo đất nước đã được nhân dân tin tưởng, ủy thác và giao phó cho Đảng. 1.510 đại biểu tại Đại hội XII của Đảng đã được đại hội Đảng các cấp bầu chọn thay mặt mình đi dự Đại hội toàn quốc của Đảng. Các đảng viên của Đảng không về dự Đại hội XII thực hiện quyền dân chủ dán tiếp thông qua các đại biểu mà mình đã lựa chọn. Xin nói thêm, không phải 1.510 đại biểu chỉ đại diện cho khoảng 4,5 triệu đảng viên không đâu. Bởi mỗi công dân khi trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phải có sự tín nhiệm giới thiệu của tổ chức quần chúng: Đoàn Thanh niên, hoặc Công đoàn,… Những người của tổ chức quần chúng đã tin tưởng, giới thiệu cho Đảng kết nạp người của tổ chức mình vào hàng ngũ của Đảng. Vậy là, đảng viên đó đã đại diện cho tổ chức Đoàn Thanh niên hay Công đoàn rồi. Từ đó khẳng định, 1.510 đại biểu dự Đại hội XII của Đảng không chỉ đại diện cho 4,5 triệu đảng viên của Đảng mà họ còn đại diện cho những người ở các tổ chức quần chúng, nên con số thực tế rất lớn, gồm mấy triệu đoàn viên thanh niên và mấy triệu đoàn viên Công đoàn nữa. Vì thế không thể thiển cận cho rằng, mấy triệu đảng viên không đại diện cho 90 triệu người Việt Nam.

Tại Đại hội XII, các đại biểu bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư,… một cách dân chủ bằng lá phiếu của mình - dân chủ trực tiếp. Kết quả của việc tín nhiệm bằng bỏ phiếu kín lựa chọn người có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo đất nước trong thời gian tới là hoàn toàn phù hợp, không thể võ đoán cho rằng “nhóm nhỏ” của Đảng không quyết định được những công việc của đất nước. Một số nước, tổng thống có quyền giải tán cả quốc hội, đưa ra các quyết định của đất nước bất chấp có sự đồng ý hay không của quốc hội thì sao? Trong khi đó, ở Việt Nam mọi quyết định đều do tập thể bàn bạc, thống nhất, mà tập thể ấy đã được nhân dân tin tưởng, ủy thác, thế mà HRW lại cho rằng không được còn tổng thống quyết định tất thảy thì lại được. Thật là nghịch lý. Điều đó lần nữa chứng minh HRW là tổ chức thiên kiến, không khách quan, nên không tin cậy, mặc dù có cái thên rất hay: “Tổ chức Theo dõi Nhân quyền”. Cái tên và việc làm của Tổ chức này cho thấy: “Chiếc áo không làm nên thầy tu” mà thôi./. 

Jan 17, 2016

SỰ NGỤY BIỆN VÔ LỐI

TRE VIỆT - Bài viết: “Bàn về chữ đức của ông Nguyễn Phú Trọng” của Trần Quý Cao, đăng ở một số trang mạng “lề trái”, ngày 16-01 đã ngụy biện, bẻ  cong chữ “Đức” mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập khi lựa chọn những người đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo của Đảng.
          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói người có Đức: “Phải trung thành tuyệt đối với dân, với chế độ, với Đảng, giữ cho được chế độ này, Đảng này, giữ cho được hòa bình ổn định để phát triển đất nước”. Rõ ràng như thế, mà Cao lại bẻ cong đưa ra ba “hệ quả” của quan niệm “giữ cho được chế độ này, Đảng này”.
          Hệ quả thứ nhất, ông ta cho rằng, “đất nước đi ngược chiều văn minh”(!). Cần khẳng định ngay rằng, đó là sự võ đoán của Cao. Văn minh được thể hiện ở việc chăm lo đến an sinh xã hội, đời sống của nhân dân như thế nào. Điều đó thể hiện sinh động ở việc thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Về vấn đề này, cộng đồng quốc tế đánh giá cao Việt Nam. Bởi nhiều mục tiêu Việt Nam đã về đích sớm; trong đó, có mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Điều đáng nói là Việt Nam thực hiện thành quả đó trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng, Nhà nước đã quan tâm, ưu tiên các nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo. Vì thế, tỉ lệ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh chóng. Do vậy, nhiều nước đề nghị Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện Mục tiêu này trong điều kiện đất nước còn khó khăn. Trong khí đó, nhiều nước phát triển, có thu nhập bình quân đầu người cao, nhưng không ít người vô gia cư, phải sống trong các hộp cát-tông, vỉa hè,… đó sao. Đành rằng, ở vùng sâu, vùng xa nước ta còn một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu đói, nhất là lúc giáp hạt. Đó là vấn đề khó tránh khỏi, Đảng, Chính phủ đều biết và đang cố gắng lãnh đạo, chỉ đạo để có các hành động cụ thể khắc phục tình trạng này. Tuy nhiên, để khắc phục triệt để tình trạng đói nghèo không phải một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có thời gian và thực hiện từng bước vững chắc để không tái nghèo.
          Hệ quả thứ hai ông Trần Quý Cao đưa ra là “chặn đường phát triển của dân tộc”(!). Lý do mà ông ta đưa ra là do đất nước không có các đảng phái khác đưa ra các phương án khác nhau để nhân dân lựa chọn, mà chỉ có một sự lựa chọn phương án của Đảng Cộng sản. Phương án của Đảng Cộng sản trước khi quyết định đã đưa ra toàn dân thảo luận, đóng góp, hiến kế đấy thôi. Dự thảo văn kiện trình Đại hội XII của Đảng và các kỳ đại hội trước cùng những quyết sách quan trọng khác, như Hiến pháp và các luật,… Đảng, Nhà nước chẳng lấy ý kiến góp ý của nhân dân đó sao? Thực chất, ông ta ngụy biện để đòi đa đảng mà thôi. Hãy nhìn ra thế giới, một số nước đa đảng có giữ được ổn định để phát triển đất nước đâu. Những đất nước đó luôn xảy ra mâu thuẫn, sung đột, hậu quả là nhân dân phải gánh chịu. Vậy nên, Trần Quý Cao và những người có suy nghĩ như ông ta dừng giầu trí tưởng bở.
          Hệ quả thứ ba, Trần Quý Cao cho rằng, “đưa Tổ quốc vào tròng của Trung Cộng”(!). Cao không phải là người đầu tiên nói về vấn đề này, mà ông ta chỉ là người “ăn theo nói leo”. Việt Nam và Trung Quốc cùng ý thức hệ, cùng lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, không thể nói nước nào theo nước nào được mà là sự lựa chọn của mỗi nước phù hợp với luật pháp quốc tế về quyền dân tộc tự quyết - tự quyết định lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình. Thực tế cho thấy, Quốc khánh Việt Nam ngày 02-9-1945, còn Quốc khánh Trung Quốc ngày 01-10-1949, mà sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa của Việt Nam được khẳng định ngay từ Cương lĩnh năm 1930 của Đảng. Vậy nước nào theo nước nào mà họ lại đua nhau cho rằng Việt Nam theo Trung Quốc, vào “tròng” Trung Quốc? Đó chỉ là sự ngụy biện vô lối mà thôi./.




Jan 15, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC THÔNG TIN THẤT THIỆT

TRE VIỆT - Hội nghị Trung ương 14 (khóa XI) - Hội nghị cuối cùng chuẩn bị cho Đại hội XII của Đảng bế mạc chiều 13-01. Theo dõi lời phát biểu bế mạc Hội nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đều rất vui mừng trước thành công của Hội nghị. Hội nghị “rất thành công”, không khí dân chủ, thẳng thắng, số phiếu rất tập trung khi chọn bốn vị trí tứ trụ: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ để giới thiệu với Đại hội,… là những từ ngữ được người đứng đầu Đảng ta đã sử dụng. Thế nhưng, ngay sau đó, trên các trang “lề trái” xuất hiện nhiều bài viết, một số người vào đọc và coi như đó là món quà ngồi bàn trà ấm nước trao đổi, bàn luận, mà họ đã vô tình trở thành người tuyên truyền thông tin thất thiệt. Mà những người viết bài trên các trang “lề trái” thì có động cơ không trong sáng, với mục đích riêng. Vì thế, lấy các tin ở các trang đó ra bàn luận thì thật không nên.
Chúng ta còn nhớ, vụ động đất sóng thần ở Nhật Bản cách đây mấy năm, có người viết bài đại thể là tự giới thiệu là người Việt, làm nghiên cứu sinh ở Nhật, đã chứng kiến một em bé người Nhật dù không còn bố mẹ, lại phải chịu cảnh đói rét, nhưng vẫn xếp hàng trật tự cùng người lớn để nhận khẩu phần thức ăn của mình, khi được anh người Việt cho bánh mì, em bé đã từ chối vì không nỡ ăn khẩu phần của anh ta. Bài viết đã ca ngợi tinh thần người Nhật, cảm phục trước tinh thần kỷ luật của người Nhật và gây sự xúc động lớn trong xã hội. Thế nhưng, khi sứ quán Nhật tại Việt Nam, tìm người Việt viết bài theo địa chỉ anh ta cung cấp trong bài viết, thì không có ai như thế cả. Bài viết dù vô hại, nhưng cho chúng ta thấy, sự tưởng tượng của người ta rất giỏi, làm mọi người cứ nghĩ như thật, nhưng lại không có thật.
Ví dụ khác là VTV với: Chuyện của Lượm cách đây mấy năm cũng đã gây xúc động cho bao nhiêu khán giả màn hình nhỏ! Cũng vì chuyện này mà ê kíp làm chương trình phải xin lỗi khán giả chỉ vì tin vào bức thư của người có tên Lượm mà không điều tra kỹ, nên không hề hay biết, đó không phải là chuyện thật. Cả một chương trình truyền hình với đội ngũ có kinh nghiệm, kiến thức,… mà còn bị một là thư của cô gái trẻ mê hoặc, cứ tưởng những gì cô ta viết trong thư là thật, thì những bài viết trên các trang “lề trái”, mọi người chớ có vội tin, để lấy “câu chuyện làm quà”, tạo dư luận và tin đồn đoán thất thiệt.
Chúng ta còn nhớ, cách đây không lâu, cũng trên các trang “lề trái” đã mở chiến dịch bôi nhọ một cán bộ cấp cao của Đảng bằng cách tung tin ông ta sở hữu “hàng loạt ngôi biệt thự khủng”, có biệt thự hàng chục triệu đô trên đất Mỹ, nhiều “biệt phủ” nguy nga hoành tráng ở quê, cho con cháu “đứng tên” hàng chục “lô đất vàng” ở các thành phố lớn,... làm nhiều người bị sốc và tin cho đó là thật. Người ta còn viết chính họ là những người từng làm ở văn phòng của cán bộ cao cấp kia, làm tăng thêm độ tin cậy. Thế nhưng, qua điều tra, đó chỉ là những bịa đặt, không có ai từng làm ở văn phòng của cán bộ cao cấp kia có tên tuổi như thế cả. Mục đích của họ là gây hoài nghi, mất lòng tin của người dân với chế độ mà thôi.
Hiện nay, những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước còn bịa đặt trong Đảng đã và đang có sự chia rẽ nội bộ sâu sắc; đang đấu đá giữa phe “bảo thủ” với phe “cải cách”, giữa “phe thân Mỹ” với “phe thân Tầu”. Đi kèm với những thông tin thất thiệt trên, chúng liên tiếp đăng tải và tán phát những bài viết bình luận về tình hình nhân sự mới của Đảng diễn ra trong tình thế “giằng co quyết liệt” giữa các “nhóm lợi ích”, đấu đá giữa các phe, cánh với nhau… Sự bịa đặt của chúng khác hẳn với những tuyên bố trong lời bế mạc Hội nghị Trung ương 14 của Tổng Bí thư. Thực chất là họ reo rắc sự hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng trong nhân dân, làm mất ổn định chính trị mà thôi.

Trước các sự kiện trọng đại của đất nước, Việt Nam cũng như các nước khác đều phải tăng cường an ninh, nhằm bảo vệ an ninh, an toàn cho sự kiện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng, công tác an ninh cũng được tăng cường cả về lực lượng và phương tiện thì chúng lại xuyên tạc trắng trợn rằng, chuẩn bị cho việc “đấu đá”, “thanh trừng” giữa các phe phái trong Đảng. Vậy nên, cần cảnh giác trước các thông tin thất thiệt. Hãy là người thông thái khi tiếp nhận thông tin để không bị lừa./.

XUYÊN TẠC HIỆN THỰC - MỘT CHIÊU BÀI CŨ RÍCH

Tre Việt - Càng gần đến ngày Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tần xuất các bài viết của những người tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền”,… trên in-tơ-nét thông qua các trang mạng càng đậm đặc. Nội dung chủ yếu vẫn là xuyên tạc thành tựu của Việt Nam 86 năm qua (1930 - 2016), nhất là trong công cuộc đổi mới (từ 1986 đến nay); bôi nhọ, hạ thấp vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, v.v. Những chiêu bài này chẳng có gì mới, những người dân có lòng yêu nước chân chính, tôn trọng sự thật luôn nhận rõ!
          Gần đây, có một số người tự xưng là “nhà đấu tranh” cho dân chủ, nhân quyền tung ra một số bài viết đăng trên một số trang mạng, cho rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang trong lầm than, đói khổ, đứng trước hiểm họa diệt vong. Phải chăng vậy? Cần khẳng định ngay rằng, đây là những bài viết xuyên tạc tình hình thực tiễn Việt Nam, mang dụng ý xấu của những kẻ bội tín, vong ân, bội nghĩa, những “con rối” đang tâm “cõng rắn, cắn gà nhà”, làm tay sai cho các thế lực chống cộng. Bộ mặt bẩn thỉu của những kẻ này mọi người dân đều nhận rõ, nên chúng có viết gì, nói gì thì cũng chẳng ai tin. Sự thật khách quan đã bác bỏ hoàn toàn những gì chúng dựng chuyện, xuyên tạc.
Xin điểm lại những thành tựu chính của dân tộc Việt Nam từ 1930 đến nay. Lịch sử đã chứng minh, từ năm 1930 đến nay, dân tộc Việt Nam đã giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một dân tộc chịu kiếp nô lệ “một cổ hai tròng”, dân tộc Việt Nam đã đứng lên đập tan chế độ phong kiến thối nát, “đánh Pháp, đuổi Nhật” thành lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á (năm 1945). Tiếp đó, cả dân tộc Việt Nam đã đoàn kết, nhất quyết đứng lên “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, để làm “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” đánh bại thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại (năm 1954). Miền Bắc Việt Nam - một nửa nước đã được giải phóng, nhưng miền Nam Việt Nam vẫn nằm dưới ách nô lệ của đế quốc Mỹ. Dân tộc Việt Nam lại tiếp tục đứng lên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Với phương châm “tự lực cánh sinh”, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 30-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc, Nam - Bắc thống nhất - nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời. Đất nước thống nhất, nhân dân Việt Nam chưa được hưởng trọn niềm vui; cả nước vừa phải bắt tay vào khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, vừa phải đối phó cuộc xâm lược biên giới Tây Nam của tập đoàn phản động diệt chủng Pôn-Pốt – Yêng-xa-ry và biên giới phía Bắc của bọn bành trướng bá quyền nước lớn, cũng như sự bao vậy, cấm vận của đế quốc Mỹ và tay sai. Vượt qua mọi khó khăn, thách thức, bằng trí tuệ, công sức và cả máu của mình, dân tộc Việt Nam đã một lần nữa giành chiến thắng. Năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới về tư duy kinh tế. Kiên định với mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công cuộc đổi mới đã giành được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Việt Nam có sự ổn định chính trị vững chắc; nền kinh tế đất nước có sự phát triển liên tục, mang tính bền vững cao, đời sống của người dân không ngừng tăng lên, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; quốc phòng - an ninh được tăng cường; chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia (cả trên đất liền, trên biển, trên không) được bảo vệ vững chắc. Việt Nam, từ một đất nước kém phát triển, nghèo đói, bị tàn phá bởi chiên tranh đã được cộng đồng thế giới công nhận một nước phát triển ở ngưỡng trung bình. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với nhiều quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ, nền kinh tế trên thế giới; là thành viên tin cậy, có trách nhiệm cao của những tổ chức quốc tế có uy tín, v.v. Có đẩy đủ các số liệu phản ánh thực tế những chỉ số phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,… để minh chứng cho những thành tựu nêu trên được các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và quốc tế nói nhiều, nói rõ, thiết nghĩ chẳng cần nhắc lại.
Đây là sự thực khách quan không thể bác bỏ. Chỉ những kẻ “mù” mới chẳng nhìn thấy!
Vậy, nguyên nhân nào quyết định đến sự thắng lợi, phát triển của Việt Nam?
Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu là: nhân dân Việt Nam đã tin tưởng, trao quyền lãnh đạo, cầm quyền cho một lực lượng chính trị duy nhất “Đạo đức và văn minh” - Đảng Cộng sản Việt Nam. Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với cương lĩnh, đường lối, phương pháp lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn, sáng tạo; đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì nước, vì dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, chiến thắng “giặc dốt”, “giặc đói”, “giặc ngoại xâm”, xây dựng nước Việt Nam “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý rõ ràng, chẳng có thế lực nào bác bỏ được.

Những kẻ bội tín, vong ân bội nghĩa, đang tâm làm “con rối” cho các thế lực thù địch, chống phá hiện thực phát triển của đất nước Việt Nam dẫu có “múa” thế nào, cũng bị người dân nhận rõ, bác bỏ, lên án./. 

Jan 10, 2016

CHỈ LÀ SỰ SUY DIỄN

Tre Việt - Đã thành thông lệ, càng gần đến ngày Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lại càng có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề nhân sự, nhất là vị trí “tứ trụ”. Nhiều người quan tâm đến đời sống chính trị của đất nước là điều đáng mừng, nhưng những ý kiến quan tâm bình phẩm, suy diễn, xuyên tạc, dựng chuyện, bịa đặt nhằm lung lạc, hoặc reo rắc sự hoài nghi của một bộ phận nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng thì cần cảnh giác và lên án. Bài viết: “Gay cấn đến cùng” trên trang Người Buôn Gió, ngày 09/01/2016 và một số trang lề trái lăng xê là một bài viết như thế.
Bài viết này dựng chuyện, trong Bộ Chính trị đang có cuộc đấu đá phe, nhóm nhằm tranh giành vị trí Tổng Bí thư của Đảng. Họ bịa đặt, đưa ra các tình tiết có vẻ ly kỳ, nhằm đánh lừa những người nhẹ dạ cả tin, để cho rằng, trong Bộ Chính trị đang mâu thuẫn sâu sắc. Bằng cách dẫn ra một số đơn thư chưa kiểm chứng, nhưng họ cứ khăng khăng cho đó là đơn thư thực của người này, cựu quan chức kia ủng hộ người này, tố cáo người khác là do đấu đá trong phe nhóm ở Bộ Chính trị. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Quy định 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều (19 điều) đảng viên không được làm, được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đồng tình ủng hộ và nhận thấy đó là những việc Đảng phải có quyết tâm chính trị rất cao trong thực hiện để Đảng trong sạch, vững mạnh đủ sức lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế mà, họ xuyên tạc một cách sống sượng rằng, đó “là những thứ để tấn công gây sát thương” cho đối thủ trong cuộc chạy đua vào chức Tổng Bí thư (!). Nghị quyết mang số 244 được thống nhất trước đây trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chỉ cho phép Bộ Chính trị đưa ra ứng cử viên thì họ lại bịa đặt rằng: “Nghị quyết 244 là dây thừng buộc chân” không cho đối thủ “tiến đến vùng an toàn”. Họ cố tình làm ngơ trước nguyên tắc lãnh đạo của Đảng là Đại hội đại biểu của Đảng có quyền cao nhất, quyết định tất thảy các vấn đề về Đảng và xây dựng Đảng; giữa hai kỳ đại hội là Ban Chấp hành Trung ương, thường xuyên và trực tiếp là Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Thế thì, Nghị quyết 244 đã được Ban Chấp hành Trung ương thảo luận thống nhất, biểu quyết là thể hiện ý chí của toàn Đảng, hà cớ gì lại cho đó là “dây thừng buộc chân” đối thủ (?!). Đó chẳng phải là sự suy diễn lố bịch sao?
Về công tác nhân sự của Đảng, ai cũng biết từ trước đến nay ở tất cả các cấp đều phải thực hiện theo quy chế bầu cử, quy chế này được xây dựng và tập thể thảo luận dân chủ, thống nhất đưa vào thực hiện. Đồng thời, mỗi vị trí lãnh đạo đều có các tiêu chuẩn phù hợp, được định lượng một cách cụ thể, không chung chung, để tránh tình trạng bầu theo cảm tính. Thế mà người ta lại cho rằng, việc xây dựng quy chế bầu cử, đưa ra các tiêu chí như Hội nghị Trung ương 11 (khóa XI) là nhằm loại trừ đối thủ vào vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng (!).

Vậy nên, trong tình hình hiện nay, mỗi người cần cảnh giác trước những thông tin thất thiệt trên các trang “lề trái”, để tránh mắc mưu những kẻ có lòng dạ đen tối./.

Dec 28, 2015

MINH TRIẾT THẾ SAO?

Tre Việt - Ngày 26-12-2015, Nguyễn Khắc Mai có bài viết: “Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam đối diện với Năm Chữ Chính” được một số trang mạng “lề trái” đăng tải. Đọc bài viết, thấy rõ ông ta dẫn ra những kiến thức làm ra vẻ mình là người am hiểu, nhưng thực chất chỉ là “thùng rỗng kêu to”. Tác giả Đông La trong bài viết: “Minh triết du côn” đã viết: “Nguyễn Khắc Mai là đương kim Giám đốc Trung tâm Minh Triết Việt Nam, một trung tâm ra đời năm 2008, thuộc Liên hiệp các hội KHKT,… Hai chữ minh triết tưởng dễ hiểu nhưng không ngờ giới “tinh hoa” nước mình cũng lại hiểu lung tung đến vậy”. Đông La dẫn ra quan niệm của một số tác giả và chỉ ra các quan niệm đó đúng sai như thế nào; trong đó, có quan niệm của Nguyễn Khắc Mai và kết luận: “Như vậy, Nguyễn Khắc Mai, một người chưa hiểu chính xác chữ minh triết, lại làm giám đốc một trung tâm minh triết, rồi bàn về minh triết e rằng sẽ có nhiều huyên thuyên”!
          Đúng vậy. Về tính chính danh của Đảng Cộng sản Nguyễn Khắc Mai viết: “Có rất nhiều sự rối loạn về chính danh của Đảng Cộng sản. Thứ nhất là danh xưng “Cộng sản” không phản ảnh đúng cái tên Kommunismus. Thuật ngữ này trong tiếng Đức, Anh, Pháp, Nga… đều được hiểu là chủ nghĩa cộng đồng. Chữ cộng sản, nhiều người cho là người Nhật dịch đầu tiên rồi truyền sang Tàu, vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ XX”. Về vấn đề này, trên trang http://cunom.blogspot.com/ có bài nguyễn-khắc-mai-bịa-đặt-về-chủ-nghĩa cộng sản đã viết: “Lần đầu tiên tôi được biết đến ông Nguyễn Khắc Mai là qua một bài viết có tên là “Minh Triết Các Mác hay những nghịch lý cộng sản”. Than ôi, đó là một bài viết đầy những dối trá, bịa đặt và xuyên tạc tư tưởng của Marx”; “Khái niệm minh triết của ông Nguyễn Khắc Mai là một thứ chủ nghĩa duy linh đội lốt khoa học, thế nên nó được học bằng thần hứng (trực cảm, tâm linh). Nói nôm na là người ta có thể sẽ gọi hồn ông Marx lên để học tư tưởng Marx cho nhanh”; “ông Nguyễn Khắc Mai bịa đặt hoàn toàn về từ “Kommunismus” [một từ tiếng Đức], nếu tra từ đó bằng tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp hay bất cứ thứ tiếng nào, với bất cứ từ điển nào thì kết quả đều là khái niệm về “chủ nghĩa cộng sản”, nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế. Khái niệm “chủ nghĩa cộng đồng” mà ông Nguyễn Khắc Mai cho là đúng thì trong tiếng Đức người ta dùng một từ khác để diễn đạt, đó là từ “Kommunalismus”. Các ngôn ngữ khác cũng có từ tương tự, “chủ nghĩa cộng đồng” là một khái niệm đề cập đến văn hóa và chủng tộc. Chả biết minh triết rồi sẽ đi đến đâu, nhưng “ngu” triết thì đã rất rõ ràng”.
Còn Lữ Phương trên vietstudies với bài MinhTrietTheNaySao? Khi thấy Nguyễn Khắc Mai viết: “Cái gọi là giá trị minh triết đầu tiên của C. Mác là sự thừa nhận không có chủ nghĩa cộng sản. Hai ông nhiều lần khẳng định điều này (xem Ăng ghen trả lời phỏng vấn của K. Heinzen, cũng như bài tựa tác phẩm Cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp)”, đã: “nhận ra những sai lầm không thể nào tưởng tượng nổi của một nhân vật “hiện là giám đốc Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Minh Triết”. Bởi theo Lữ Phương: “điều ông Mai gọi là “Ăng ghen trả lời phỏng vấn của K. Heinzen” thực sự là những lời luận chiến phê phán những nhận xét sai lầm của K. Heinzen về chủ nghĩa cộng sản của Marx: “Heinzen hình dung… Chủ nghĩa cộng sản không phải là một học thuyết mà là một phong trào đem vào thực hiện không phải từ những nguyên lý mà từ các sự kiện”; mà theo Ăng ghen: “Trong chừng mực là một lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản là biểu hiện lý luận vị trí của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và vô sản, là sự tổng kết những điều kiện cho sự giải phóng giai cấp vô sản”. Lữ Phương kết luận: “Tôi hết sức ngạc nhiên về thái độ quá dễ dãi (hoàn toàn thiếu thận trọng) trong cách đọc văn bản của ông Nguyễn Khắc Mai cũng như cách ông viện ra khái niệm gọi là “giá trị minh triết” để giải thích xuyên tạc tư tưởng của Marx”.
Nguyễn Khắc Mai còn nhắc lại cuốn sách “Hồ Chí Minh sinh bình khảo (khảo cứu cuộc đời của Hồ Chí Minh)” của Hồ Tuấn Hùng (xưng là cháu nội của nhân vật trong sách) để đặt sự nghi ngờ Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người(!). Ông Mai là cử nhân lịch sử, nghiên cứu về lịch sử mà còn đặt câu nghi vấn theo kiểu “ăn theo nói leo” không có sự tư duy chỉ biết nói theo như con vẹt là sao? Điều hiển nhiên như thế mà còn nghi ngờ. Ông quả là người hoang tưởng. Vết sẹo ở dáy tai của Hồ Chí Minh khi còn nhỏ đi câu cá bị lưỡi câu ngoắc phải, chị gái đến thăm những năm đầu Người làm Chủ tịch nước đã nhận ra và thốt lên: “đây rồi, đúng cậu ấy đây rồi” nói lên điều gì? Khi về thăm quê, Người cùng bạn bè thủa nhỏ ôn lại kỷ niệm chứng tỏ cái gì thưa ông? Ông đòi Đảng, Nhà nước phải làm rõ việc này, thì chỉ có những đứa trẻ thiểu năng mới tin tin đồn của trẻ trâu ông Mai ạ. Ông có phải là thiểu năng đâu, mà là giám đốc Trung tâm Minh Triết Việt cơ mà!? Lại lần nữa thấy rõ cái gọi là minh triết của ông nó như thế nào.
          Với minh triết của ông Nguyễn Khắc Mai như vậy, nên ông ta viết về Đảng: “Cho đến khi cùng đường thì phải “đổi mới”, thực chất là thực hiện dè dặt những hình thức và phương thức của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên do thực hiện những hình thức tư bản chủ nghĩa mà vẫn duy trì Marx – Lenin nên về cơ bản không thể thực hiện phương thức tư bản chủ nghĩa hiện đại, thành ra đã sản sinh một thứ chủ nghĩa tư bản vừa hoang dã vừa quái dị với những quan hệ xã hội rất phong kiến”. Điều đó chứng tỏ ông ta chưa nghiên cứu chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I. Lê-nin. Chính sách ấy đã thực hiện những hình thức kinh tế trung gian, với bước đi quá độ, nhằm bắc những “chiếc cầu nhỏ” để đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhờ thực hiện chính sách kinh tế mới mà Liên Xô đã vượt qua được những khó khăn chồng chất của những năm đầu mới giành được chính quyền, mặc dù khi đó bị 14 nước đế quốc bao vây. Không những thế, Liên Xô còn đánh bại phát xít Đức, cứu loài người khỏi hiểm họa diệt chủng của chủ nghĩa phát xít. Nước ta ngày nay đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên còn những mảng, những bộ phận chưa phải của chủ nghĩa xã hội, chưa có chủ nghĩa xã hội đích thực. Đảng, Nhà nước ta đang tiếp thu thành tựu của nhân loại để xây dựng đất nước. Đó là thành tựu về khoa học - công nghệ, về quản lý kinh tế và nguồn vốn thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thực chất là chấp nhận hình thức xuất khẩu tư bản. Vì thế, Nguyễn Khắc Mai cho rằng “thực chất là thực hiện dè dặt những hình thức và phương thức của chủ nghĩa tư bản”, chính là sự khôn khéo của giai cấp vô sản đã bắt giai cấp tư sản phải cày trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước (bởi ở đó đã có ¾ là chủ nghĩa xã hội như V.I. Lê-nin nhận xét) để xây dựng đất nước theo yêu cầu của giai cấp vô sản.
Nguyễn Khắc Mai cho rằng: “Chỉ mỗi mình Đảng là đang hoạt động không có luật định. Vì thế tính chính thống của Đảng hiện nay là nửa vời”(!). Đảng là một tổ chức chính trị thuộc hệ thống chính trị. Vì vậy, Đảng cũng như các tổ chức chính trị khác của hệ thống chính trị phải chấp hành Hiến pháp và hệ thống pháp luật của đất nước, chẳng nhẽ ông không thấy sao? Không những thế, Đảng và mỗi đảng viên của Đảng còn phải chấp hành Điều lệ Đảng, đây cũng có thể coi là Luật Đảng; đồng thời, chấp hành những điều đảng viên không được làm theo Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Như vậy, những điều mà công dân khác làm được, nhưng là đảng viên của Đảng thì không được làm. Chẳng nhẽ đó không phải là luật sao mà ông nói Đảng “hoạt động không có luật”?

          

Nov 30, 2015

KHÔNG PHẢI CỨ ĐA ĐẢNG LÀ CÓ DÂN CHỦ HƠN

Tre Việt - Có ý kiến cho rằng, thực hiện đa đảng, có nhiều đảng cạnh tranh nhau thì sẽ dân chủ hơn, sẽ tốt hơn một đảng! Có đúng như vậy không? Câu trả lời là không. Hãy xem chính người Mỹ nói về nước Mỹ - một nước thực hiện chế độ đa đảng, thực chất là thế nào. Họ nói rằng, nước Mỹ là một nước “tự do”, người dân được tự do biểu tình, báo chí được tự do phanh phui những chuyện nhạy cảm, xuyên tạc, bôi xấu lẫn nhau vì sự cạnh tranh, hạ uy tín của đảng này với đảng phái kia, v.v. Nhưng điều đó không phải là bản chất thực sự của dân chủ, xin minh chứng bằng câu nói của giáo sư Paul Mishler, trường Đại học bang Indiana của Mỹ: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học... đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”[1].
Như vậy, có thể rút ra một số vấn đề sau: thứ nhất, chế độ đa đảng của nước Mỹ “thực chất chỉ là một đảng”, là sự cầm quyền của đảng tư sản; thứ hai, dân chủ ở nước Mỹ là dân chủ tư sản, không phải là dân chủ của đa số, không thực hiện quyền lực thực sự thuộc về nhân dân; thứ ba, thực chất đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản. Và, bất cứ một nền dân chủ nào, cũng đều nhằm đảm bảo sự thống trị của giai cấp thống trị, cầm quyền. Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà nó phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền phục vụ cho giai cấp nào. Bản thân nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động làm thuê. Trong các nước tư bản chủ nghĩa, dù tồn tại đa đảng và các đảng đối lập, nhưng vẫn định hình một đảng cầm quyền. Chính trường ở đó thường xuyên diễn ra các cuộc tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị tư sản. Họ chỉ đa nguyên, đa đảng trên hình thức, còn trên thực tế đều tỏ rõ sự nhất nguyên, bởi đảng chính trị tư sản nào cũng không bao giờ xa rời mục đích bảo vệ cho quyền thống trị và sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Ở các nước đó, chưa bao giờ có chuyện Đảng Cộng sản cầm quyền cả.
Không phải cứ đa nguyên, đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ. Cũng không phải một đảng là trở ngại của sự phát triển dân chủ. Nêu lên quan điểm này người ta đã vô tình, hoặc cố ý không tính đến sự khác biệt bản chất giữa các đảng chính trị tư sản và cộng sản, giữa dân chủ tư sản và dân chủ XHCN. Với thực tiễn và đổi mới của Việt Nam, không ai có thể phủ nhận được những bước tiến rõ rệt về dân chủ mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được trong những năm qua, trong nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền, trong thực hành dân chủ, đặc biệt là sự thừa nhận của chính người dân, về những nỗ lực của chúng ta trong việc thực hiện tính công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý, trong tranh luận, thảo luận, trong bầu cử, trong cải cách hành chính và cải cách tư pháp, v.v. Thành tựu của đổi mới sở dĩ có được là nhờ lực đẩy của dân chủ hóa và chính dân chủ là một trong những thành tựu nổi bật của đổi mới. Cuộc thảo luận rộng rãi trong toàn dân đóng góp cho Văn kiện Đại hội XII của Đảng là một minh chứng rõ rệt cho sự quan tâm đầy trách nhiệm của người dân đối với Đảng và Nhà nước của mình, cũng như nhân dân đã tham gia vào công việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị. Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội kỳ họp cuối khóa XIII vừa bế mạc là một thí dụ khác. Đó là những bằng chứng nói lên sức sống của đời sống chính trị dân chủ ở nước ta. Bởi thế, chắc chắn là, đông đảo các tầng lớp nhân dân sẽ có tiếng nói phê phán với những hoạt động tuyên truyền, những lời kêu gọi đòi đa nguyên, đa đảng ở nước ta. Cuộc sống vốn tường minh và nhân dân vốn sáng suốt, công bằng, nhạy cảm đủ sức sàng lọc, phân định để làm rõ chân và giả, thiện chí xây dựng và những toan tính sai lầm, gây hại cho dân, cho nước. Nhân dân đón nhận và ủng hộ những gì công tâm, chính trực và chối từ những ngụy tạo, ác ý.
Tôn trọng sự thật và chân lý để hành động có trách nhiệm, đó là thái độ và sự lựa chọn của chúng ta. Trên tất cả các phương diện từ lý luận khoa học đến thực tiễn chính trị cũng như sự trong sáng đạo đức, những ai thiện tâm, thiện chí, vì Tổ quốc, dân tộc và nhân dân đều thấy rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền là một thực tế lịch sử, không gì có thể làm dao động lý trí và tình cảm của chúng ta. Điều 4 Hiến pháp 2013 đã khẳng định về vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng. Đó là ý chí của dân, nguyện vọng của dân, đạt được sự đồng thuận rất lớn của xã hội. Đảng ta trong nhận thức và đánh giá của dân, có đầy đủ tính chính đáng pháp lý và sự xứng đáng về phẩm giá và uy tín của một Đảng lãnh đạo và cầm quyền.
Đảng cần ra sức tự vượt lên những hạn chế và khiếm khuyết bằng cách tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xứng đáng với trọng trách của mình và niềm tin của nhân dân. Đóng góp vào công việc hệ trọng này là hành động có trách nhiệm của mỗi đảng viên và mỗi người dân. Bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ, về thực chất là bảo vệ dân, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của dân, hiện tại cũng như lâu dài./.



[1] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 7 (106), 2009, tr. 87-89