TRE VIỆT - Ngày 14-7-2015, VOA tiếng Việt với bài: “Báo chí Việt -
Trung khẩu chiến về chuyến đi Mỹ của ông Trọng”. Bởi lẽ, sau chuyến thăm Hoa Kỳ
của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, kết thúc cuối tuần trước, tờ Hoàn Cầu Thời Báo, một ấn phẩm của
tờ Nhân dân Nhật Báo, thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc viết rằng,
Hà Nội “đang chịu sức ép chính trị ngày càng tăng từ Mỹ mà về lâu dài sẽ là một
thách thức đối với sự ổn định của Việt Nam”. Tờ báo này hậm hực và đe dọa: “Mối
quan hệ thân cận hơn giữa Việt Nam
và Mỹ một phần là nhằm đối phó với Trung Quốc, và kéo theo biện pháp trả đũa từ
Trung Quốc. Điều này sẽ gây áp lực lên cả ba phía, và khi đó, Việt Nam có thể trở
thành kẻ chịu thiệt hại nhiều nhất”. Qua đó cho thấy, Trung Quốc đừng tỏ thái độ
hậm hực như vậy, vì nó chỉ làm tổn thương danh dự của chính nước này mà thôi.
Ai cũng biết, Trung Quốc là nước lớn, mọi hành xử phải tỏ rõ là người đàng hoàng,
đĩnh đạc, đừng vì sự tiến bộ của người khác, nước khác, chỉ sợ người ta hơn mình
mà tỏ thái độ ghen ghét, đố kỵ. Đó là thói xấu cần phải thay đổi. Không ai ưa cái
tính tiểu nhân ấy cả, cần tỏ rõ là người quân tử chứ. Với đường lối đối ngoại
ngày càng rộng mở theo tinh thần đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đối
ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm của tất cả
các nước và cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của
mỗi nước, khu vực và thế giới. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã gác lại quá khứ
(chứ không quên quá khứ), vì không ai có thể thay đổi được quá khứ để hướng tới
tương lai, cùng các nước, các dân tộc trong cộng đồng quốc tế phấn đấu cho một
tương lai tốt đẹp cho mỗi nước, mỗi dân tộc và cả nhân loại. Vì thế, với truyền
thống nhân nghĩa, lòng bao dung, vị tha, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn
coi những nước cựu thù thành đối tác, thành bạn trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, như các nước: Nhật Bản, Pháp và ngày nay là Hoa Kỳ, hay ngay như
Trung Quốc đã từng “dạy” cho Việt Nam một bài học vào tháng 02-1979 (và không
biết ai dạy ai) thì ngày nay cũng là bạn, là đối tác của nhau đấy thôi. Thế mà,
khi Việt Nam
quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, Trung Quốc tỏ thái độ hậm hực là sao? Trung Quốc
muốn “tọa sơn con hổ đấu” hay sao? Thói xấu này phải từ bỏ ngay! Nếu không
Trung Quốc sẽ trở nên đơn độc trong thế giới ngày càng văn minh hiện đại. Bởi
người ta có đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc cũng chỉ “bằng mặt không bằng
lòng” mà thôi.
Tờ
Hoàn Cầu - tờ báo có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa còn hù
dọa: “Cho tới nay, chưa có nước nào hưởng lợi từ việc lôi kéo Mỹ can thiệp vào
cuộc tranh chấp với Trung Quốc, và việc này chắc chắn sẽ thất bại”. Xem ra lời
lẽ trên của tờ báo này chẳng hù dọa được ai. Nước nào cũng có độc lập, chủ quyền,
chẳng ai có thể lôi kéo được ai. Chỉ có những người, những nước bảo vệ lẽ phải
và chân lý, tuân theo luật pháp quốc tế, còn kẻ nào tự đặt cho mình một luật riêng,
mà luật ấy chỉ căn cứ vào lòng tham mà không có căn cứ vào lịch sử, chính trị,
pháp lý nào thì nhất định thất bại mà thôi. Kẻ ấy sẽ bị cô lập, đơn độc và nhất
định chuốc lấy thất bại. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nhất định sẽ ngày càng phát
triển tốt đẹp, vượt qua mọi sự thử thách, lòng đố kỵ, hậm hực của ai đó, để cùng
xây dựng sự thịnh vượng, phát triển của mỗi nước, góp phần vào việc gìn giữ hòa
bình, sự ổn định của khu vực và thế giớiJul 15, 2015
Jul 12, 2015
KẾT QUẢ CHUYẾN THĂM HOA KỲ CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG ĐÃ BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC
TRE VIỆT - Chuyến thăm Hoa Kỳ từ
ngày 06 đến ngày 11/7/2015 của TBT Nguyễn Phú Trọng thực sự là một sự kiện, một
bước ngoặt có tính lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Chuyến thăm đã thảo luận hàng loạt các vấn đề then chốt tạo nền tảng vững
chắc cho quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong tương lai. Điều đó đã bác bỏ mọi luận điệu
xuyên tạc, xấu độc.
Kết quả chuyến thăm Hoa Kỳ của
TBT Nguyễn Phú Trọng đã mở ra các định hướng và tầm nhìn chung tạo nền tảng đưa
quan hệ song phương Việt Nam
- Hoa Kỳ phát triển trong thời gian tới. Bởi có thể thấy chuyến thăm đã mang lại
những kết quả chủ yếu sau:
Thứ nhất,
đây là chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của TBT ĐCS Việt Nam và cũng là lần đầu tiên
TT Obama dành nghi lễ đón tiếp nguyên thủ đối với người đứng đầu đảng chính trị
của một quốc gia, mà lại là người đứng đầu ĐCS. Điều này cho thấy lòng tin
chính trị và sự phát triển vượt bậc của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Đồng thời, nó đã bác
bỏ một số ý kiến trước chuyến thăm, như Bùi Tín cho rằng, “vị khách cồng kềnh”,
làm cho Hoa Kỳ bối rối không biết đón tiếp theo nghi thức nào? Và ông già gần
90 tuổi đón già đón non các kịch bản có thể xảy ra. Cuối cùng, chính Bùi Tín đã
thể hiện mình là ông già lẩm cẩm, không thức thời, mà lại hay nói. Việc làm ấy
của Bùi Tín đã không như các cụ dạy “biết thì thưa thớt, không biết dựa cột mà
nghe”, vì ông ta quên cả văn hóa dân tộc chăng?
Thứ hai,
hai nhà lãnh đạo Việt Nam - Hoa Kỳ đã xem xét và ghi nhận kết quả thực chất đạt
được trong nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai nước, từ kinh tế, thương mại đến
giáo dục, khoa học và công nghệ; từ môi trường, biến đổi khí hậu đến quốc
phòng, an ninh, rồi các lĩnh vực “nhạy cảm” như dân chủ, nhân quyền. Thực chất, đây chính là
sự ghi nhận về sự phát triển bình thường trên tất cả các mặt của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sau
20 năm bình thường hóa. Bên cạnh đó, TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Obama cũng bàn
về cách thức làm sâu sắc và đa dạng hơn các lĩnh vực hợp tác ghi trong thỏa
thuận Đối tác toàn diện. Điều này cho thấy, sự đan xen và có chung lợi ích giữa
Việt Nam
và Hoa Kỳ trong rất nhiều vấn đề. Lợi ích và sự hợp tác này không chỉ giới hạn
trong khuôn khổ quan hệ song phương, mà còn trong các hợp tác khu vực, đa
phương và toàn cầu.
Thứ ba,
Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi sâu và đạt được nhận thức quan trọng về một số
vấn đề “cốt lõi” có tính lan tỏa, tăng cường lòng tin hoặc giúp thúc đẩy việc
đan xen lợi ích tạo nền tảng vững chắc hơn trong quan hệ, như Hiệp định đối tác
xuyên Thái Bình Dương (TPP), hợp tác quốc phòng.
Về TPP,
trong Tuyên bố về tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ, hai nước thể hiện
muốn hợp tác để sớm hoàn tất tiến trình đàm phán. Là Hiệp định thương mại được
coi là có tiêu chuẩn quốc tế cao nhất hiện nay, việc hoàn tất TPP sẽ giúp tạo
sự liên kết giữa các thành viên một cách chặt chẽ hơn, giúp thúc đẩy sự thịnh
vượng ở châu Á - Thái Bình Dương và sự thịnh vượng chung trên thế giới. Điều đó
đã bác bỏ một số ý kiến đề nghị Hoa Kỳ, đưa vấn đề nhân quyền như là điều kiện để ký kết TPP với Việt Nam .
Về hợp tác quốc phòng, Việt Nam
và Hoa Kỳ đều thể hiện quyết tâm làm sâu
sắc và cụ thể hóa các lĩnh vực hợp tác được ghi trong Tuyên bố tầm nhìn chung
về quan hệ quốc phòng ký tháng 6/2015. Trong bất kỳ quan hệ song phương nào,
hợp tác quốc phòng sẽ tạo cơ sở xây dựng sự tin cậy chính trị và thúc đẩy hợp
tác trong các lĩnh vực khác.
Thứ tư, hai
bên đã đạt được nhận thức mới quan trọng trong các vấn đề liên quan đến an
ninh, an toàn hàng hải và tranh chấp chủ quyền ở
Biển Đông. Đây là những chủ đề được các nhà lãnh đạo Việt Nam - Hoa Kỳ quan
tâm và được đề cập trong hầu hết các cuộc gặp, các tuyên bố quan trọng. Điều
này cho thấy: (1) Đây là các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp nhất đến lợi ích quốc
gia của Việt Nam và Hoa Kỳ; (2) Đây không chỉ là vấn đề liên quan đến an ninh
khu vực, lợi ích của hai nước mà còn liên quan đến thịnh vượng và an ninh toàn
cầu; (3) Việc kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế và xử lý hòa bình các tranh
chấp chủ quyền ở Biển Đông
cho thấy, trách nhiệm của Việt Nam và Hoa Kỳ đối với các vấn đề toàn
cầu.
Thứ năm,
hai bên trao đổi thẳng thắn và cởi mở về các khác biệt, các điểm từng được coi
là “nhạy cảm”, như: tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, v.v. Điều này
cho thấy: (1) Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, sau 20 năm đã trưởng thành, hai bên không còn lo ngại việc
đề cập đến các khác biệt sẽ làm ảnh hưởng quan hệ giữa hai nước; (2) Các khác
biệt về nhận thức, về cách tiếp cận trong các vấn đề “nhạy cảm” trên là lẽ
đương nhiên, do sự khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển, khác
biệt về văn hóa, tôn giáo, v.v. ; (3) Điều quan trọng là hai bên coi đối thoại
là con đường tốt nhất để thu hẹp khác biệt, để hiểu biết nhau hơn, mở rộng các
điểm tương đồng và đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục phát triển. Vấn đề này
cho thấy, một số ý kiến của những người có nhận thức sai trái, thù địch luôn luôn muốn Hoa Kỳ đưa những
vấn đề nhạy cảm trên thành điều kiện để quan hệ hai nước. Kết quả của chuyến thăm
Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng hẳn đã làm cho họ sáng mắt và liệu họ có từ bỏ
kiểu “chọc gậy bánh xe” chăng? Thực tế lịch sử Việt Nam đã khẳng định, có những
nước là cựu thù sau trở thành quan hệ tốt đẹp, như: Việt Nam - Nhật Bản, Việt
Nam - Pháp. Quan Việt Nam - Hoa Kỳ rồi cũng sẽ tốt đẹp như thế !
Đặc biệt là, bên cạnh việc tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, Hoa Kỳ còn công nhận thể chế chính trị mà
thực chất là tôn trọng sự lựa chọn chính trị của Việt Nam.
Sự có chung lợi ích quốc gia
trên nhiều vấn đề là một trong những nhân tố quan trọng đưa quan hệ Việt Nam -
Hoa Kỳ có những bước tiến dài, mà theo như TBT Nguyễn Phú Trọng nói là ít ai có
thể hình dung nổi cách đây 20 năm và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh thì cho rằng, “thời
gian ngắn, bước tiến dài”.
Khi lên cầm quyền tháng 01/2009,
Chính quyền của TT Obama đã thực hiện chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á
- Thái Bình Dương, coi quan hệ của Hoa Kỳ với khu vực này là ưu tiên hàng đầu,
quyết định sự “thành, bại” trong việc tiếp tục duy trì vị thế siêu cường số 1
thế giới của nước này trong thế kỷ XXI.
Trong chiến lược xoay trục, Hoa
Kỳ thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của Việt Nam . Tuy chỉ là nước đang phát
triển tầm trung, nhưng Việt Nam
lại có nền kinh tế phát triển nhanh, tích cực hội nhập với khu vực và quốc tế.
Quan hệ Việt Nam
- Hoa Kỳ tốt sẽ giúp nước
này mở rộng thị trường hàng hóa
xuất khẩu, dịch vụ và đầu tư. Đồng thời, Hoa Kỳ nhìn thấy vai trò quan trọng
cũng như tầm ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam . Việt Nam đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy đoàn kết, thống nhất nội khối làm cho ASEAN ngày một
lớn mạnh, đóng vai trò trung tâm trong việc đảm bảo hòa bình và xây dựng cấu
trúc khu vực về kinh tế, an ninh, chính trị ở khu vực. Hoa Kỳ coi Việt Nam là nhân tố
quan trọng đóng góp vào sự thịnh vượng chung của khu vực và toàn cầu, cũng như
trong việc đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.
Về kinh tế - thương mại, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đứng thứ 7 trong
số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Kỳ
còn là nước đi đầu trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ - những lĩnh
vực then chốt đối với tiến trình phát triển và hội nhập của Việt Nam . Bên cạnh
đó, là sự tương đồng trong cách tiếp cận giữa hai nước trong vấn đề an ninh, an
toàn hàng hải và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông; đặc biệt là các hoạt động
đơn phương gần đây nhằm tìm cách thay đổi nguyên trạng.
Như vậy, sau chuyến thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn
Phú Trọng đã đạt được một số kết quả đặc biệt quan trọng, tạo niềm tin cho chúng
ta về sự tiếp tục phát triển của
quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm tới. Điều đó là minh chứng
bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, xấu độc của những kẻ có tâm không trong sáng, đi
ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam - Hoa Kỳ./.
Jun 24, 2015
CHỈ LÀ DỰ ÁN “LÝ THUYẾT XUÔNG”
Tre Việt - Vừa qua, trên kênh
VOA tiếng Việt có đăng tải bài viết của tác giả Bùi Tín cho biết: tổ chức Tập
hợp dân chủ đa nguyên - một tổ chức bao gồm nhiều trí thức người Việt và gốc
Việt ở châu Âu, châu Mỹ và châu Úc, có trụ sở chính ở Paris (Pháp) đã cho ra
mắt bản Dự án chính trị mang tên “Khai sáng Kỷ nguyên thứ hai”. Dự án muốn chỉ
ra rằng “… từ khi lập quốc đến nay là Kỷ nguyên thứ nhất của các chế độ
cũ, phong kiến, thực dân, cộng sản toàn trị, không có dân chủ tự do, kìm hãm
dân tộc trong vòng lạc hậu tăm tối triền miên. Nay là lúc lịch sử sang trang,…”.
Từ trước đến
nay, đã xuất hiện nhiều luận điểm, đề án, dự án,…có nội dung tương tự như vậy.
Và lần này xem ra, đây lại là một Dự án “lý thuyết xuông” nữa, sẽ không thuyết
phục được ai, trừ những người đã “cố dặn” ra nó.
Hãy cùng nhìn
vào thực tế đang diễn ra ở Việt Nam .
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định:
“Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển đất nước”. Vì thế, Đảng luôn coi trọng xây dựng và
từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân. Trên thực tế, dân chủ được thực hiện trên tất cả các
lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra đã được thể chế
hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Trong công cuộc đổi mới đất nước,
Ðảng ta đã chỉ rõ một trong những nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo đổi mới là xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân,
thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh và Hiến pháp nước ta
luôn khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bảo đảm mọi quyền lực thuộc về
nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thể chế hóa
quyền lực đó bằng pháp luật, được pháp luật bảo hộ. Chính vì thế, dân chủ là
một trong những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới, được thể hiện sinh
động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội,… từ thể chế đến chính sách. Nhân dân ta ở khắp mọi vùng, miền của đất nước
cũng như đồng bào ta đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài đều cảm nhận
thành tựu này qua đời sống hằng ngày, qua những đổi thay của đất nước.
Một trong những
biểu hiện sinh động của việc phát huy quyền làm chủ của người dân là trong quá
trình xây dựng dự thảo các văn bản luật, dưới luật đều được Đảng, Nhà nước ta
giới thiệu công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để tham khảo ý
kiến của đông đảo nhân dân. Mặt khác, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo, quan tâm,
tạo điều kiện để đồng bào thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, sống tốt
đời, đẹp đạo; bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin được
bảo vệ và tạo điều kiện phát triển, v.v. Điều đó bác bỏ luận điệu cho rằng, ở
Việt Nam không có tự do dân chủ!
Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, đến nay đã được gần 30
năm và thu được nhiều thành tựu toàn diện trên các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên
nhiều; phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế; xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là
động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc. Đồng thời, quan tâm thực hiện các chính sách an sinh xã hội vì hạnh phúc
của con người. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống
cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh
trên một vạn dân tăng nhanh. Cùng với đó, Việt Nam
chủ động và tích cực mở rộng giao lưu, hợp tác, hội nhập
quốc tế, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng
được nâng cao.
Như vậy, họ đã
cố tình phủ nhận thực tế khách quan đang diễn ra ở Việt Nam , cho rằng,
Đảng kìm hãm dân tộc trong vòng tăm tối triền miên là hoàn toàn vô căn cứ.
Chính sự vô căn cứ đó đã nói lên sự thất bại tất yếu của cái gọi là “Dự án”.
Vẫn theo bài
viết của Bùi Tín: “…Theo ban lãnh đạo của Tập họp dân chủ đa nguyên, đối lập
dân chủ ở Việt Nam chưa thành công, còn yếu kém chủ yếu là do thiếu một dự án
chính trị sát đúng với tình hình thực tiễn của nước ta và thế giới, đi sát
nguyện vọng của nhân dân ”. Thế mới thấy: làm gì có Dự án nào sáng
suốt, đúng đắn hơn quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam . Đó là sự
thật không thể phủ nhận!
Jun 21, 2015
SỰ NGỤY BIỆN CỦA TƯƠNG LAI
TRE VIỆT - Ngày 15-6-2015, trên trang boxit Việt Nam, Tương Lai có bài: “Góp ý kiến vào quá trình tiến đến Đại hội lần thứ XII của Đảng”. Trong bài viết ông ta nói rằng, “sẽ tập trung trình bày mấy vấn đề sau đây: Từ bỏ mô hình đã lựa chọn sai, mô hình Xã hội chủ nghĩa. Từ bỏ cái gọi là “Chủ nghĩa Mác –Lê-nin”. Trung thực và nghiêm túc thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Bài viết này, chỉ đề cập đến vấn đề thứ nhất mà ông góp ý: từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội để thấy sự ngụy biện của ông ta.
Tương Lai cho rằng, “Hiện nay, loài người không còn chủ nghĩa tư bản nguyên nghĩa nữa, mà cũng chưa từng có chủ nghĩa xã hội đích thực. Hai thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” và “chủ nghĩa xã hội”, thì một không còn phản ánh một thực tế nào nữa, và một thì chưa hề phản ánh một thực tế nào cả. Cái thứ nhất là “chủ nghĩa tư bản”, cái thứ hai là “chủ nghĩa xã hội”. Cũng có nghĩa là mục tiêu mà chúng ta, nói đúng hơn là Đảng áp đặt cho cả dân tộc ta, cho toàn xã hội phải hướng tới một mục tiêu mù mờ để ra sức xây dựng”. Tương lai đã đúng khi cho rằng, chủ nghĩa tư bản không còn nguyên nghĩa nữa. Nhưng xin lưu ý ông, những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi. Đó là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất. Đã từ lâu, giai cấp tư sản thực hiện bán cổ phần cho giai cấp công nhân, nhưng ông chủ tư sản vẫn chiếm số lượng cổ phiếu áp đảo. Nói cách khác, cơ sở sản xuất vẫn do ông chủ nắm giữ và chính ông ta có quyền quyết định mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy là, vai trò, vị trí của chủ - thợ cũng rất rõ ràng, không có gì khác trước cả.
Các nước tư bản còn khả năng phát triển, vì sự phát triển của nó chưa tới giới hạn, nên trong quá trình phát triển điều tất yếu là phải quan tâm đến an sinh xã hội. Mặc dù vậy, bần cùng hóa tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối mà C. Mác đã chỉ ra đến nay xã hội tư bản vẫn không có gì thay đổi. Cho nên, mặc dù, chủ nghĩa tư bản không còn nguyên nghĩa, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn là chính nó. Bởi cái mà chủ nghĩa này thay đổi chỉ là sự thay đổi những cái không thuộc về bản chất của chủ nghĩa tư bản mà thôi.
Về chủ nghĩa xã hội, đúng là chưa có trong thực tiễn. Xin lưu ý ông rằng, chưa có chứ không phải không có. Nhưng thực tiễn đã chứng tỏ rằng, chưa có mà không dám dấn thân thì không bao giờ tìm ra chân lý. Lịch sử nước ta cho thấy, phong kiến phương Bắc đô hộ dân tộc Việt Nam cả nghìn năm. Nghìn năm so với một đời người thì quá dài và đời người quá ngắn ngủi. Nếu cứ suy nghĩ như Tương Lai: cả nghìn năm dân tộc ta đã chịu cảnh đô hộ của phong kiến phương Bắc như thế rồi, thì phải chấp nhận thôi. Và như vậy, không có cuộc cách mạng nào đánh đổ phong kiến phương Bắc để giành độc lập dân tộc chứ gì? Nhưng không. Dân tộc ta không phải ai cũng suy nghĩ như ông. Những người con yêu nước Việt Nam với ý thức tự tôn dân tộc, nên dù phong kiến phương Bắc có đô hộ cả nghìn năm, vẫn có những người đứng lên tạo dựng ngọn cờ tập hợp nhân dân vùng lên quyết đánh đổ phong kiến phương Bắc, dân tộc ta mới được độc lập như ngày nay đấy ông ạ. Lịch sử hiện đại của dân tộc ta cũng cho thấy, dù thực dân Pháp đô hộ gần thế kỷ, nhưng không chịu khuất phục, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã đứng lên đánh đổ thực dân giành độc lập dân tộc. Nếu cứ lối suy nghĩ của ông: gần thế kỷ có làm gì được thực dân Pháp đâu, thôi thì cam chịu kiếp ngựa trâu chứ gì? Trong khoa học cũng vậy, nếu tìm chân lý mà không dám dấn thân, chỉ dám đi theo con đường mà người khác đã đi thì làm gì có sự phát triển, làm gì tìm ra được chân lý mới. Thực tế cho thấy, trong khi cả giáo hội, thế giới quan niệm: trái đất đứng im, chỉ có một nhà khoa học với niềm tin khoa học của mình quả quyết rằng: trái đất không đứng im mà nó tự quay quanh mặt trời, dù có phải trả giá bằng tính mạng, nhà khoa học đó vẫn khẳng định và điều đó về sau được khoa học chứng minh nhà khoa học này đã đúng. Như vậy, thực tiễn chứng tỏ, chân lý không phải thuộc về số đông. Cho nên, ngày nay, mặc dù các nước kiên định con đường phát triển xã hội chủ nghĩa không nhiều, nhưng không không vì thế mà cho rằng, các nước lựa chọn con đường phát triển chủ nghĩa xã hội là sai lầm. Thế thì làm sao phải từ bỏ con đường phát triển chủ nghĩa xã hội hả Tương Lai?
Ông nói đưa dân tộc đi theo chủ nghĩa xã hội là “sự mù mờ” (!), lại chứng tỏ ông chưa nghiên cứu Cương lĩnh xây dựng đất nước lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh đã xác định rõ các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Ông hãy tìm nghiên cứu! Ở đó, cho thấy, những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà dân tộc ta đang xây dựng. Tất nhiên, xã hội đó do chưa có trong lịch sử, nên trong quá trình xây dựng, phải vừa thiết kế, vừa thi công để làm sao xã hội đó khắc phục được những khuyết tật của các chế độ xã hội trước, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhất cho nhân dân; đồng thời, bảo vệ được độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, v.v. Vì thế, nó đòi hỏi phải có thời gian dài, rất dài. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: không biết đến thế kỷ XXI đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện hay chưa cũng vì thế! Xin lưu ý là chủ nghĩa xã hội hoàn thiện, nói cách khác chủ nghĩa xã hội đích thực, còn hiện nay chúng ta xây dựng xã hội hướng tới chủ nghĩa xã hội, nên có mặt đạt được, có mặt chưa đạt được cần tiếp tục xây dựng, mặt đạt được cũng cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao. Điều đó chứng tỏ việc xây dựng xã hội mới đòi hỏi quá trình gian khổ và lâu dài, nhất là xã hội ấy chưa có trong lịch sử, nhưng là người cách mạng phải có niềm tin cách mạng ông ạ. Tương Lai về già xem ra lập trường thiếu sự kiên định, niềm tin cách mạng không biết đánh mất từ bao giờ? Để ông ta luôn luôn có những phát biểu, ý kiến không đồng thuận với đường lối của Đảng như thế. Nên có người gọi ông là người đi ngược quả không sai!
TỘI THAM NHŨNG KHÔNG CÓ ÁN TỬ HÌNH KHÁC GÌ KHUYẾN KHÍCH VƠ VÉT CỦA CÔNG
Bạn
đoc Mộng Tưởng có bài viết sau gửi đến Tre Việt, xin giới thiệu cùng bạn đọc
TỘI THAM NHŨNG KHÔNG
CÓ ÁN TỬ HÌNH
KHÁC GÌ KHUYẾN KHÍCH
VƠ VÉT CỦA CÔNG
Nhìn
chung, dư luận xã hội hiện nay là muốn các cơ quan công quyền cần mạnh tay hơn
nữa trước tình trạng nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi. Từ
thực tiễn cuộc sống, nhiều câu hỏi đã được đặt ra như: tại sao nạn tham nhũng
càng chống càng nở rộ như nấm sau mưa; tỷ lệ xét xử án tham nhũng chiếm quá ít
trong tổng số vụ việc tham nhũng được phát hiện; tình trạng “giơ cao đánh khẽ” trong xử lý tội tham
nhũng khá phổ biến…do vậy, chuyện “hy
sinh đời bố, củng cố đời con” đã, đang và sẽ tiếp tục củng cố quan niệm
sống hết sức thực dụng của những đối tượng có điều kiện tham nhũng.
Tình
trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay đã thật sự trở thành quốc nạn, gây bức xúc
đặc biệt trong tư tưởng, tâm lý của cán bộ, đảng viên và toàn dân. Quần chúng
nêu thắc mắc là: Với hệ thống lãnh đạo chặt chẽ của Đảng từ Trung ương xuống cơ
sở, với bộ máy Nhà nước đồ sộ như hiện nay và hệ thống các cơ quan hành pháp,
tư pháp đầy đủ ở các cấp, tại sao không “giết”
được nạn tham nhũng? mà ngược lại, cả hệ thống chính trị và toàn dân đang đành
phải chấp nhận “sống chung” với nạn
tham nhũng. Thật là trớ trêu!.
Có
phải niềm tin của nhân dân vào khả năng phòng, chống tham nhũng ở nước ta đang “bị treo”. Nhiều con đường được đầu tư
ngân sách cả ngàn, chục ngàn tỷ đồng mới đưa vào sử dụng đã lún, nứt; cầu mới khánh thành dân chưa kịp
mừng đã sập; cầu treo vừa xây dựng hoặc tu bổ đã đứt cáp gây thương vong cho
dân; nhiều tượng đài, công trình công cộng đã bị sự cố “cháy nhà ra mặt chuột”…chắc chắn từ tham nhũng mà ra. Khi bàn đến
vấn đề phòng, chống tham nhũng để chuẩn bị tham gia ý kiến vào Bộ luật Hình sự
(sửa đổi), một vị đại biểu đã phát biểu thẳng thắn tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội
khóa XIII với đại ý là “…mới làm cán bộ
mấy năm mà gia tài đã có đến hàng tỷ, hàng trăm tỷ, nếu không tham nhũng thì
lấy đâu ra…”, đây là cách lập luận có cơ sở khoa học và thực tiễn rất đáng
hoan nghênh.
Từ
rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo có tính giáo dục cho cán bộ,
đảng viên bằng bài viết mang tiêu đề ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG đăng trên báo Nhân Dân
số 460, ra ngày 06/6/1955 có đoạn: “Ảnh
hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài
Đảng) hủ hóa. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được
hưởng thụ. Do đó, mà họ mắc những sai lầm: kiêu ngạo, trưng diện, hưởng lạc,
lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi
nước mắt của nhân dân.
Họ quên mất tác phong gian khổ phấn
đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần
họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến
thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”(*)
Ngày
nay, khi công cuộc đổi mới đất nước đang tiếp tục tiến xa hơn, hội nhập sâu hơn
vào nền kinh tế thế giới, thì tội phạm tham nhũng càng có thêm điều kiện thuận
lợi để hoành hành, bằng các thủ đoạn mới nham hiểm hơn, khó lường hơn, đáng chú
ý là sự thao túng nền kinh tế đất nước của các phần tử thuộc “lợi ích nhóm” mà báo giới và nhiều nhà
nghiên cứu đã lên tiếng phân tích sự tác hại ghê gớm của nó.
Quay
lại vấn đề bỏ hay không án tử hình đối với tội phạm tham nhũng. Điều này đã và
đang được các nhà nghiên cứu luật pháp, các chuyên gia kinh tế và đặc biệt là
nhiều đại biểu Quốc hội hết sức quan tâm bàn luận, và dường như việc giữ nguyên
án tử hình đối với tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự hiện hành đang
chiếm xu thế lớn. Người viết bài này thử đặt giả thiết là không còn áp dụng án
tử hình đối với tội phạm tham nhũng nữa (tức là chỉ còn án chung thân hoặc có
thời hạn), thì quan niệm sống theo kiểu “hy
sinh đời bố, củng cố đời con” được những người còn điều kiện tham nhũng “tận dụng triệt để” hơn bao giờ hết, và
chắc chắn người bị thiệt hại trước hết và trên hết vẫn là dân. Qua thực tế cho
thấy, có rất nhiều tội phạm được ban quản lý các trại giam đánh giá, nào là“gương mẫu” chấp hành án theo đúng quy
định của pháp luật, nào là luôn chịu khó “rèn
luyện” sửa chữa lỗi lầm trong thời gian thụ án…nói chung là cải tạo tốt, để
rồi qua chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, họ sẽ được xem xét giảm án
từ tù chung thân chuyển thành án tù có thời hạn, từ án tù dài hạn chuyển thành
án tù ngắn hạn và cuối cùng thì ra tù một cách “ngoạn mục”, sống phè phỡn sung túc trong cộng đồng như thể trêu
ngươi (?!). Như vậy, đối với tội phạm tham nhũng mà không có án tử hình, khác
gì “khuyến khích” cho các hành vi vơ
vét của công?. Rất mong có sự trao đổi nghiêm túc, cân nhắc kỹ lưỡng, phân tích
thấu đáo về vấn đề này trước khi quyết định của cấp có thẩm quyền.
________________
(*)Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập
7, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 568 – 569.
Jun 2, 2015
ĐỪNG NGHE CON NGHIỆN NÓI
Tre Việt - Mấy ngày vừa qua, cư dân
mạng đang “nóng” lên vì các bài viết về Nguyễn
Chí Tuyến; đặc biệt, BBC tiếng Việt còn đưa tin Nguyễn Chí Tuyến và
một số nhà dân chủ - nhà hoạt động xã hội dân sự đã có cuộc tiếp xúc với vị Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain trong chuyến thăm hai ngày (27 - 28/5/2015) của Ông ở Việt Nam. Nguyễn Chí Tuyến nói với BBC rằng: Đoàn thượng nghị sỹ
Hoa Kỳ đã đặt nhiều câu hỏi về tình hình phát triển dân chủ, nhân quyền ở
trong nước. “Ông McCain bày tỏ cảm kích về công việc của chúng tôi và hỏi nước
Mỹ có thể giúp được điều gì?".
Vậy, Nguyễn Chí Tuyến
là ai? Một người yêu nước hay phản dân hại nước? Trước hết, phải xem con người
này làm gì? sinh sống ra sao? Chẳng phải nói chắc mọi người cũng biết rõ từng
chân tơ, kẽ tóc, nhưng Tre Việt cũng xin cung cấp cho độc giả biết: Nguyễn Chí
Tuyến có “phẩm chất” bẩm sinh khác người là thích “ngồi
mát ăn bát vàng”, cho nên khi cả xã hội và gia đình của Tuyến đang miệt mài lao
động, sản xuất thì Tuyến lại lông bông, lười biếng. Ngay từ nhỏ, y đã biết hành
nghề “trộm cắp”, biển thủ tài sản gia đình, nên tài sản trong gia đình của y
không cánh mà bay. Bởi vì, hắn đã mang hết đi bán tống, bán tháo và cầm cố. Khi
gia đình không còn gì đáng giá, Tuyến lại tích cực “thăm hỏi” người trong họ,
hàng xóm, rồi làng trên, xóm dưới, thậm chí lang bạt cả nơi “đầu đường xó chợ”
rình mò những sơ hở của bà con để thực hiện các phi vụ trộm cắp. Mặc dù, sống
trong một gia đình có truyền thống cách mạng, thế nhưng, chính Tuyến lại phá
tan những gì mà cả tổ tiên, ông bà, cha mẹ Tuyến đã dầy công xây dựng.
Từ những việc làm và hành vi phá phách của Tuyến là
nguyên nhân chính khiến bố mẹ từ con, hàng xóm xa lánh, đặc biệt khi bộ mặt của
con nghiện phơi bày. Không còn gì để mất, để có tiền hút, trích, Tuyến đã không
từ một thủ đoạn nào, kể cả việc đâm thuê, chém mướn, hễ có ai thuê thì sẵn sàng
làm.
Gần đây, “ma xui, quỷ khiến” đã giúp y móc nối với các
tổ chức phản động và Tuyến được chúng sử dụng như một “diễn viên đóng thế”,
“người mẫu ảnh” diện những bộ trang phục của một kẻ “khố rách áo ôm” và tô vẽ,
“làm đẹp” bằng phẩm màu của tiết lợn, tiết chó lòe loạt để trở thành một “hình
nộm” chính hiệu Chí phèo thế kỷ XXI, tạo dáng cho đồng bọn chụp ảnh và viết bài
xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước ta.
Một kẻ lưu manh, chuyên “rạch mặt ăn vạ” nay được các
thế lực “o bế”, “khích lệ” tham gia hoạt động chính trị. Các thế lực này không
ngớt lời ca tụng và còn nhận xét Tuyến có tố chất của một “chính trị gia” (!)
Nhưng rất tiếc, ở Việt Nam
chưa bao giờ và không bao giờ cần những “nhà chính trị” lưu manh như Tuyến.
Những hành động và lời nói của Tuyến không một người dân yêu nước nào quan tâm,
để ý, mà chỉ có “đồng đảng” của chúng, nhất là các thế lực thù địch, thậm chí
cả những người bất đồng chính kiến ủng họ mà thôi.
Vậy, lời nói của
Tuyến mà BBC tiếng Việt đưa tin và các bài viết về Tuyến trên mạng xã hội trong
thời gia qua, mọi người Việt Nam yêu nước cần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh
chống mọi luận điệu nhằm xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh nước nhà, chống lại những
kẻ lưu manh, kiếm tiền bằng mọi thủ đoạn như Tuyến, góp phần nhỏ bé để bảo vệ đất
nước ngàn năm văn hiến.
May 26, 2015
ĐỪNG ĂNG ẲNG NỮA
Tre Việt - Ngày 22-5-2015,
trên VOA tiếng Việt có bài: “Tổng thư ký
Liên hợp quốc phải thúc đẩy nhân quyền Việt Nam ”, của Trà My. Bài viết cho
biết, nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon theo
lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào ngày 22 và 23-5-2015, một số tổ
chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam cho rằng, “Tổng thư ký Ban nên nhân
chuyến thăm lần này nêu vấn đề nhân quyền với các nhân vật cao cấp nhất trong Chính
phủ Việt Nam. Trong vô số rất nhiều vấn đề nhân quyền của Việt Nam, chí ít ông
Ban nên đề cập tới ba ưu tiên chính là yêu cầu Hà Nội hủy bỏ các điều luật mượn
danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền, phóng thích tù nhân lương tâm, và
yêu cầu nhà nước Việt Nam chấm dứt các hành động sách nhiễu, hành hung, trấn áp
những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền” (!)
“Trong vô số rất nhiều vấn đề nhân
quyền của Việt Nam ”
mà họ đề cập đã bị chính trả lời phóng vấn của phóng viên trước chuyến thăm của
Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moom sau đây là cái vả vào miệng những kẻ đơm
đặt. Trước chuyến thăm, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã trả lời phỏng
vấn về mục đích chuyến thăm cũng như khuyến nghị trong giai đoạn chuyển đổi
sang các Mục tiêu phát triển bền vững sau 2015 ở Việt Nam. Khi được phóng viên phỏng vấn: Việt Nam
là một trong những quốc gia đã thực hiện thành công các Mục tiêu Phát triển
Thiên niên kỷ (MDGs). Ông có khuyến nghị gì đối với Việt Nam trong giai
đoạn chuyển đổi sang các Mục tiêu phát triển bền vững sau 2015?
Tổng Thư ký Ban Ki-moon: Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu đó, chẳng hạn như: giảm một nửa tỷ lệ nghèo đói; cải thiện tiếp cận của người dân với nước và vệ sinh; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và bình đẳng giới trong giáo dục. Tôi rất vui mừng trước quyết tâm và thành tựu của Việt Nam, đặc biệt là qua việc xây dựng các mục tiêu phát triển quốc gia đã giúp Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một nước có thu nhập trung bình trong những thập kỷ gần đây.
Tổng Thư ký Ban Ki-moon: Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu đó, chẳng hạn như: giảm một nửa tỷ lệ nghèo đói; cải thiện tiếp cận của người dân với nước và vệ sinh; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và bình đẳng giới trong giáo dục. Tôi rất vui mừng trước quyết tâm và thành tựu của Việt Nam, đặc biệt là qua việc xây dựng các mục tiêu phát triển quốc gia đã giúp Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một nước có thu nhập trung bình trong những thập kỷ gần đây.
Tuy nhiên, Ông cũng cho rằng, hướng
tới tương lai sau năm 2015, Việt Nam cần bảo đảm đạt được những tiến bộ tương
tự ở tất cả các nhóm dân cư, kể cả các cộng đồng dân tộc thiểu số và người dân
sống gần ngưỡng nghèo. Việt Nam
cần đảm bảo sao cho không ai bị rơi lại vào tình trạng nghèo cùng cực do bị ảnh
hưởng bởi những thảm họa thiên tai hoặc kinh tế. Đó cũng là những vấn đề mà
Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang quyết tâm thực hiện. Song,
Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moom nhấn mạnh: “Tôi tin rằng kỷ nguyên sau
2015 sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho Việt Nam và giúp đất nước các bạn vượt qua
những thách thức còn tồn tại để đạt được phát triển bền vững cho tất cả mọi
người”. Thiết nghĩ những đánh giá khách quan, khái quát trên của Tổng thư ký
Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã bác bỏ những tiếng nói lạc lõng cho rằng Việt Nam
“còn vô số các vấn đề về nhân quyền”.
Họ đề nghị Tổng thư ký Liên hợp quốc
“yêu cầu Việt Nam
hủy bỏ các điều luật mượn danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền”, là một đề
nghị phi lý. Là một đất nước độc lập, có đầy đủ chủ quyền, Việt Nam
phải có hệ thống luật pháp riêng phù hợp với luật pháp quốc tế và đặc điểm, văn
hóa, truyền thống mình. Thật vậy, trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành
động”, cộng đồng quốc tế khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính
phổ cập, không thể chia cắt… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc
thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo…”[1].
Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, cũng quy định: “1:
Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2:
Mọi người có quyền tự do ngôn luận…”, khoản 3 mục 2 Điều 19 quy định nghĩa vụ
và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, trong khi thực hiện các quyền này phải chịu một
số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo
vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công
chúng”. Như vậy, họ yêu cầu Việt Nam hủy bỏ cái gọi là “điều luật mượn danh an
ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền” là yêu cầu không căn cứ, không theo luật
pháp quốc tế nên không thể chấp nhận.
Họ yêu cầu Việt Nam “phóng thích tù nhân lương tâm” (!), Việt
Nam đã nhiều lần khẳng định, ở đất nước này không có “tù nhân lương tâm”, chỉ
có những người vi phạm pháp luật thì bị trừng trị theo quy định của luật pháp.
Việt Nam
đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nên pháp luật phải được
thượng tôn, không có ai đứng trên pháp luật, ngoài pháp luật. Bất cứ ai, là
công dân Việt Nam
vi phạm pháp luật đều phải xử phạt bình đẳng trước luật pháp. Những người theo
đạo vi phạm pháp luật, những người mượn danh tự do ngôn luận vi phạm pháp luật
đều phải xử phạt theo luật pháp. Họ không thể đứng trên pháp luật, ngoài pháp
luật. Vậy nên, hỡi các người, đừng có ăng ẳng mãi mà chán tai lắm rồi!
Họ cho rằng, “tự do tôn giáo tại Việt
Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng thông qua Dự thảo Luật Tôn giáo và Tín ngưỡng
với nội dung tăng cường siết chặt kiểm soát sinh hoạt của các cộng đồng tôn
giáo” (!) Hiến pháp Việt Nam ,
được Quốc hội thông qua ngày 28-11-2013 có một chương về “quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Ðiều 24 của Hiến pháp 2013 khẳng định mọi
người sinh sống trên đất nước Việt Nam đều có quyền tự do tôn giáo và tín
ngưỡng, không như Hiến pháp 1992 chỉ giới hạn đối với công dân Việt Nam.
Ðiều này cũng được cho là thể hiện một thái độ tích cực hơn đối với tự do tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam .
Việc Quốc hội Việt Nam thông
qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện một bước tiến trong việc xây dựng
cơ sở pháp lý cho các cộng đồng tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều 38 của Pháp lệnh
cũng quy định các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã
tham gia sẽ có giá trị cao hơn các quy định của Pháp lệnh trong trường hợp mâu
thuẫn. Nghị định 92 cụ thể hóa việc thực hiện Pháp lệnh được thông qua ngày
8-11-2012, tiếp tục quy định chi tiết hơn các biện pháp thực hiện Pháp lệnh.
Một số đại diện các cơ quan Chính phủ cũng thể hiện sẵn sàng xem xét một số sửa
đổi thực chất đối với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay trong tiến trình
chuẩn bị xây dựng dự án luật tôn giáo. Việt Nam đang xây dựng và dự kiến
sẽ thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vào năm 2016. Xuất phát từ quan điểm tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của con người, nên Nhà nước
Việt Nam chủ trương nhất quán là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi
người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước
Việt Nam cũng
coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo đảm sự bình
đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều này được thể
hiện trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (1946 - trước cả khi Tuyên
ngôn Nhân quyền 1948 đề cập), được phản ánh xuyên suốt đến Hiến pháp 2013, cũng
như các văn bản pháp luật liên quan khác, v.v. Vậy nên, lo ngại “tự do tôn giáo
tại Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng” quả là “lo bò trắng răng”./.
[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người,
H. 2002, tr 44.
May 25, 2015
TRUNG QUỐC DỪNG NGAY CÁC HÀNH ĐỘNG PHI PHÁP Ở BIỂN ĐÔNG
Tre Việt - Thế
giới đã và đang chứng kiến Trung Quốc
ngang ngược
tăng cường các hoạt động phi pháp trên Biển Đông, trong đó có
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam . Họ xâm chiếm Hoàng Sa, tuyên
bố chủ quyền với hầu hết Biển Đông, biến một số bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa (thuộc
chủ quyền của Việt Nam) thành đảo nổi, đơn phương đưa ra cái gọi là “lệnh cấm
đánh bắt cá trên Biển Đông, v.v. Những hành động đó của Trung Quốc
là phi pháp coi thường luật pháp và công luận quốc tế.
Thực
tế cho thấy, Trung Quốc luôn tìm mọi cách để hợp thức hóa cái gọi là “đường
lưỡi bò” và “chủ quyền” đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Họ
đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa và một
số thực thể phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa của Việt Nam . Họ ngang nhiên từng bước biến
Hoàng Sa thành “quận, huyện”, xây dựng các căn cứ kinh tế, quân sự, hậu cần, kỹ
thuật; tiến hành biến một số bãi đá, bãi cạn ở Trường Sa thành đảo nổi. Từ những
căn cứ này, họ âm mưu tiến hành xâm lược ra toàn bộ Biển Đông.
Những
việc làm của Trung Quốc nói trên là đi ngược lại các nguyên tắc của luật pháp
quốc tế, các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
Biển năm
1982 (UNCLOS 1982). Nhưng với bản chất
“vừa ăn cướp, vừa la làng”, Trung Quốc đã và đang tìm mọi cách thanh minh, biện
bạch rằng, họ có quyền làm như vậy vì đây
là “nhà”, là “vườn” của họ; các nước khác cũng đang xây đảo trên Trường Sa(!)
Đây là những lập luận ngụy biện! Bởi quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo
Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử
đã chiếm hữu 02 quần đảo này từ khi còn vô chủ, ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.
Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, rõ ràng, liên tục và hòa
bình; phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành. Việt
Nam có đầy đủ các căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý đề
chứng minh và bảo vệ cho chân lý này. Nhiều học giả quốc tế, thậm chí cả học giả
Trung Quốc cũng đã chỉ rõ cơ sở lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời phê phán,
bác bỏ quan điểm của Trung Quốc về vấn đề này. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
không phải là “nhà”, là “vườn” của họ. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đoạt
“nhà, vườn” của Việt Nam - đó là thực tế
không thể chối cãi được. Việc chiếm đóng và tiến hành xây dựng trên các thực
thể thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn phi pháp, vi phạm
chủ quyền quốc gia của Việt Nam, làm mất an ninh đường hàng không, hàng hải
quốc tế qua Biển Đông.
Dư
luận quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới đã thấy rõ sự nguy hiểm và
phi pháp của Trung Quốc, nhất là hành động đã và đang bồi đắp, xây cất biến
những bãi đá thành đảo nổi có các đường băng sân bay, các công trình quân sự,
các khu dịch vụ kinh tế, kỹ thuật, hậu cần. Đây là mối hiểm họa hiện hữu, hội
đủ các điều kiện để trước mắt là khống chế và cản trở việc thông thương qua lại
của tàu thuyền, máy bay các nước hoạt động qua Biển Đông; sớm khống chế toàn
diện, tiến tới độc chiếm Biển Đông theo đúng kịch bản mà Trung Quốc đã ôm ấp từ
lâu. Vì thế dư luận quốc tế cực lực lên án những hành động của Trung Quốc.
Nhiều nhà bình luận quốc tế cho rằng, tình hình Biển Đông nóng lên là bởi những
hành động phi pháp của Trung Quốc, đồng thời yêu cầu Trung Quốc hành xử văn
minh, theo đúng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, tôn trọng các quyền và
lợi ích chính đáng của các nước có liên quan đến Biển Đông, trong đó có Việt
Nam.
Nhân đây, chúng ta cùng nói thêm về đảo, đảo nhân
đạo trong luật pháp quốc tế. Theo Điều
121 về Chế độ các đảo của UNCLOS 1982 - văn kiện được coi là Hiến chương của
thế giới về đại dương - đảo là một vùng đất
hình thành tự nhiên, có nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước. Các bãi đá, đảo đá không thể duy trì sự sống con người
hay đời sống kinh tế thì không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Như vậy, một hòn đảo phải hình thành tự nhiên và vẫn
nổi trên mặt nước khi thủy triều dâng, có thể duy trì sự sống con người với đời
sống kinh tế riêng thì mới đem lại nhiều ý nghĩa cho bên tuyên bố chủ quyền. Hiện nay, chưa có văn bản luật quốc tế nào định nghĩa về đảo nhân tạo, kể
cả UNCLOS 1982 hay Công ước Thềm lục địa 1958. Tuy nhiên, giới học giả luật
pháp quốc tế chấp nhận một định nghĩa là: Đảo
nhân tạo là một nền tảng cố định vĩnh viễn hoặc tạm thời do con người tạo nên
bằng cách đặt, đổ lên các vật chất tự nhiên như sỏi, cát và đá, bao quanh là
nước và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên. Mặc dù không định nghĩa về
đảo nhân tạo, nhưng UNCLOS 1982 lại quy định: Trong vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa của mình, quốc gia ven biển có quyền xây dựng, cho phép và quy
định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, áp dụng quyền tài phán
đặc biệt, kể cả về mặt các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế, an ninh
và nhập cư. Nhưng, theo Điểm 8, Điều 60, UNCLOS 1982: Các đảo nhân tạo không được hưởng quy chế của các đảo. Chúng không có
lãnh hải riêng và sự có mặt của chúng không có tác động gì đối với việc hoạch
định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như vậy,
quốc gia ven biển không thể “nhờ” đảo nhân tạo mà “nới” thêm chủ quyền. Việc
Trung Quốc bồi đắp xây đảo nhân tạo ở Trường Sa trên các bãi đá: Gạc Ma, Subi,
Gaven, Châu Viên, Tư Nghĩa, Vành Khăn,… là hành động vi phạm nghiêm trọng luật
pháp quốc tế này sẽ không đem lại chủ quyền cho Trung Quốc ở Biển Đông.
Trung Quốc hãy dừng ngay các hành động phi pháp
ở Biển Đông. Những hành động đó đã và đang làm tổn hại đến tình hình an ninh
hàng không, hàng hải quốc tế trên Biển Đông và xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền,
quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông. Cứ cố tình hành động,
Trung Quốc chỉ làm xấu đi hình ảnh của mình trong con mắt của bạn bè quốc tế, mà
còn bị dư luận thế giới lên án và nhất định bị thất bại! Tham thì thâm xưa nay
là thế mà!
May 17, 2015
Trò hề!
Tre Việt - Vừa qua, tại Trụ sở Quốc hội Mỹ diễn ra một trò hề gọi là Lễ kỷ
niệm Ngày Nhân quyền cho Việt Nam .
Gọi là trò hề, bởi nó không chính danh, bởi buổi lễ này không phải do Quốc hội,
Chính phủ Mỹ tổ chức; không có đại biểu nhân dân Mỹ, nhân dân Việt Nam cũng như
chính phủ của hai nước, đặc biệt là đại biểu của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp
quốc, mà chỉ có những người tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho dân
chủ”, thực chất là những kẻ chống cộng, chống Nhà nước Việt Nam! Có thể điểm
mặt một số kẻ điển hình, như: Libby Liu - Tổng giám đốc Đài Châu Á tự do (RFA) -
kẻ chuyên đăng tải những bài viết có nội dung xuyên tạc, bôi xấu tình hình nhân
quyền ở Việt Nam; Nguyễn Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ
Nấm), Lê Công Định,… những kẻ tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho dân
chủ”, thường xuyên chống Nhà nước Việt Nam quyết liệt. Cùng với đó là một số
“dân biểu”, Thượng nghị sĩ, nhân viên của Mỹ có tư tưởng chống cộng, kỳ thị chế
độ XHCN ở Việt Nam, như: Tim Kaine (Thượng nghị sĩ), Barbara Comstock (Dân
biểu),… và những “đồng bạn (bọn)” ở Trung Quốc, Myanmar, Tây Tạng, Mông Cổ. Nội
dung chủ yếu của buổi lễ là “sơ kết” những “thành tích” bán nước, hại dân của
những kẻ lưu vong, phản bội lại dân tộc Việt Nam; đồng thời, kêu gọi “cộng đồng
người Việt Nam ở Mỹ, đứng lên, đoàn kết đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở
Việt Nam”(!). Đúng là một trò hề! Bởi nhìn vào những cái tên có nhiều “thành tích”
chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, bị pháp luật trừng trị, giờ đây tị nạn ở Mỹ,
họ chẳng thể làm gì để kiếm sống, phải “ngựa quen đường cũ” tiếp tay cho những
kẻ ngoại bang có thâm thù với nhân dân và dân tộc Việt Nam để chống phá sự bình
yên trong cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
Gọi
là trò hề, bởi, tại buổi lễ này, họ trơ tráo cho
rằng, “Hiện nay, vấn đề nhân quyền ở Việt Nam
trở nên tồi tệ dưới rất nhiều hình thức, rất thách thức cho một số tổ chức báo
chí ở Việt Nam ”.
Đồng thời, vu cáo Chính phủ Việt Nam “bóp nghẹt” tự do ngôn luận, tự do báo chí, hạn chế, ngăn cấm sử dụng mạng in-tơ-nét
và tuyên bố tiếp tục đấu tranh cho “tình trạng nhân quyền nghèo nàn ở Việt
Nam”(!) Những phát biểu trên
là sự vu cáo trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam , nhằm chống phá chế độ Việt Nam !
Nhân dân Việt Nam
ở trong và ngoài nước, cũng như cộng đồng quốc tế nhận rõ “mặt thật” của chúng
và kiên quyết lên án, bác bỏ.
Thực tế cho thấy, nhân quyền ở
Việt Nam
luôn được đảm bảo ngày càng tốt hơn. Quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam
là do nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, anh dũng đứng lên, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam để đánh đuổi bọn thực dân, đế quốc tự giành lấy cho
mình. Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế, quy
định và bảo vệ các quyền về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, tín ngưỡng,…
của người dân. Việt Nam đã tham gia, thực hiện có hiệu quả các luật quốc tế,
các chương trình, mục tiêu về việc bảo đảm, phát triển quyền con người của Liên
hợp quốc, cũng như những tổ chức quốc tế có uy tín trên thế giới. Việt Nam có
quan hệ bình đẳng, hợp tác vì lợi ích dân tộc và sự phát triển, hòa bình trên
thế giới với hầu hết các nước, các vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, khu vực;
là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc,
v.v. Tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam luôn đạt gần 7%/năm. Hiện nay, Việt
Nam có thu nhập bình quân khoảng 2.200 đôla/người/năm, từ một nước nghèo Việt
Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình; từ một nước bị các thế lực thực
dân, đế quốc bao vây, cấm vận, Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư của các vùng
lãnh thổ và tổ chức kinh tế trên thế giới, v.v.
Cùng với đó, hoạt động báo chí, in-tơ-nét,
blog ở Việt Nam
luôn diễn ra hết sức sôi động, phong phú, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở Việt Nam, báo chí đã trở thành diễn đàn ngôn luận của
các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích
của xã hội, các quyền tự do của cá nhân. Mọi người đều có quyền đề đạt nguyện
vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa và xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có
báo chí. Thời gian qua, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả
về số lượng (các cơ quan báo chí), chất lượng và loại hình. Cả nước hiện nay, về báo in, có 845 cơ quan, trong đó có
199 cơ quan báo chí (tăng 07 cơ quan so với năm 2013), 646 tạp chí, 01 hãng thông
tấn quốc gia; về báo điện tử, có 98
báo, tạp chí điện tử; về phát thanh,
truyền hình, có 67 đài; có 05 cơ quan
thông tấn, báo chí Việt Nam mở cơ quan thường trú ở nước ngoài. Tại Việt Nam hiện
có 30 văn phòng báo chí nước ngoài với 35 phóng viên đăng ký thường trú. Trung
bình hằng năm, có khoảng 230 đoàn với hơn 1.000 phóng viên nước ngoài vào nước
ta tác nghiệp.
Ngày nay, người dân Việt Nam “đã
được tiếp cận với 75 kênh truyền hình nước ngoài, trong đó có những kênh được
phát rộng rãi trên thế giới, như: CNN, BBC, Bloomberg, TV5, DW, NHK, KBS,
Australia Network, v.v. Tất cả các hãng thông tấn và báo chí lớn của thế giới
đều đến với người dân Việt Nam thông qua mạng in-tơ-nét, như: Reuters, BBC,
VOA, AP, AFP, CNN, Kyodo, Economist, Financial Times, v.v.”[1].
Khoan hãy bàn nội dung thông tin của những “kênh” này, nhưng rõ ràng là điều đó
thể hiện rõ sự tôn trọng quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin đối với
người dân của Đảng và Nhà nước ta.
Nhà báo Việt Nam được chính quyền và mọi người
dân giúp đỡ, khuyến khích hoạt động tự do, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật
và bình đẳng trước pháp luật. Hiện nay, Nhà báo được Bộ Thông tin và Truyền
thông cấp thẻ hành nghề, còn blogger viết ý kiến cá nhân, họ không phải là nhà
báo. Phần lớn blogger chuyên viết nhật ký mạng, tác phẩm của họ là các bài viết
về văn học, nghệ thuật, cảm nghĩ, nêu thái độ cá nhân về cuộc sống hiện tại
trong công việc mà họ thích. Tuy nhiên, cũng có blogger lợi dụng quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí để phát tán những bài viết có nội dung xấu, độc; thậm
chí có kẻ còn đang tâm “rước voi dày mả tổ”, xuyên tạc, bôi nhọ tình hình nhân
quyền Việt Nam, thực chất là chống lại sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam,
xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Những hành động của
chúng đều bị xử lý đích đáng theo quy định của pháp luật.
Đó là những thực tế mà không thế lực nào bác bỏ
được. Hành động của những kẻ tổ chức lễ Ngày Nhân quyền Việt Nam ở Mỹ chỉ là
trò hề, của những con rối, nhất định sẽ bị nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc
tế lên án, bác bỏ./.
[1] - Theo
“Báo cáo Quốc gia về thực hiện Quyền con
người ở Việt Nam theo cơ chế
rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II”, Cổng thông tin điện tử của Bộ
Ngoại giao Việt Nam .

