Jul 23, 2025

Hạo Nhiên lại phán bừa

          Mới đây, trên trang “Vietnamthoibao”, Hạo Nhiên có bài viết: Hồi hương - Ảo ảnh Việt Nam đang “thịnh vượng và tự do”, với nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn những thành tựu phát triển của đất nước, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Luận điệu xuyên tạc: thành tựu mà đất nước và nhân dân ta đạt được từ ngày thống nhất đất nước đến nay chỉ là “một ảo ảnh tạm bợ” đã cho thấy dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước ta của Hạo Nhiên. Do đó, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Một là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường phát triển trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Sau 50 năm thống nhất đất nước, gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập tiệm cận trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, có vai trò chủ động, tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức hơn 60% năm 1986. Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc.

Hai là, mọi tầng lớp nhân dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện có hiệu quả; tạo cơ sở kích thích, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động của con người. Nhờ vậy, các giai tầng xã hội và các chủ thể tự do, tự chủ đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Các phúc lợi xã hội trong giáo dục, y tế, nhà ở tại Việt Nam đều được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Hiện nay, cả hệ thống chính trị tại Việt Nam đang nỗ lực chung tay hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà ở để đến hết năm 2025 sẽ xóa được toàn bộ 400.000 nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023. Xét ở khu vực châu Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 6. Đây là bảng xếp hạng do Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố dựa trên kết quả khảo sát tại 143 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số hạnh phúc tại Việt Nam tăng đều qua các năm cho thấy kết quả đạt được rất quan trọng của Đảng, Nhà nước ta về chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Trong lúc tình hình an ninh của một số khu vực trên thế giới rất phức tạp với cảnh bom rơi đạn lạc thì người dân Việt Nam càng cảm nhận được sự vô giá của hòa bình, hạnh phúc mà mình đang được hưởng.

Như vậy, những luận điệu mà Hạo Nhiên đưa ra đã thể hiện rõ bộ mặt của kẻ phản động, chống phá cách mạng nước ta. Do đó, chúng ta cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu phản động của Y. Đồng thời, luôn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thành công của sự nghiệp đổi mới, đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.vn)

 

Vạch trần sự thiên vị và động cơ chính trị trong Báo cáo Nhân quyền 2025 của Human Rights Watch về Việt Nam

           Dưới vỏ bọc của một tổ chức phi chính phủ bảo vệ nhân quyền, HRW trong nhiều năm qua đã không ít lần công bố những tài liệu mang tính xuyên tạc, thiên lệch, thiếu cơ sở pháp lý và không đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá khách quan. Báo cáo năm nay không phải là ngoại lệ – mà là minh chứng rõ nét cho một chiến dịch có hệ thống nhằm bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, bất chấp sự thật khách quan và tiến bộ vượt bậc trong thực tiễn bảo đảm quyền con người ở quốc gia này.

Ngay từ những dòng đầu tiên, HRW đã tái sử dụng những cụm từ sáo mòn như “đàn áp chính trị”, “bắt giữ blogger”, “giới hạn tự do biểu đạt” - những luận điệu đã cũ kỹ, không có gì mới ngoài việc tiếp tục lặp lại các cáo buộc không được kiểm chứng, được sao chép gần như nguyên xi từ các nguồn tin phi chính thống, thiên kiến hoặc đến từ những cá nhân có tiền sử vi phạm pháp luật tại Việt Nam. Đáng nói hơn, báo cáo này cố tình gán nhãn “tù nhân lương tâm” cho những đối tượng bị xử lý vì hành vi vi phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, chứ không phải vì “phát biểu chính kiến ôn hòa” như họ khẳng định.

Ví dụ, trường hợp Nguyễn Chí Tuyến hay Trương Huy San được HRW nêu ra như những người “bị bắt giữ phi pháp”. Tuy nhiên, một tổ chức tôn trọng pháp quyền lẽ ra phải nhận thức được rằng việc lan truyền thông tin sai sự thật, kích động thù hận, kêu gọi lật đổ chính quyền không thể được xem là “tự do biểu đạt”. Hành vi đó tại bất kỳ quốc gia nào, từ Mỹ cho đến Đức, đều bị xử lý bằng hệ thống pháp luật nghiêm khắc. Không thể có chuyện một người vi phạm pháp luật lại được tôn vinh như một biểu tượng nhân quyền - điều đó chẳng khác nào khuyến khích vi phạm pháp luật quốc gia.

Đặc biệt, HRW thể hiện rõ sự thiên vị về mặt nhận thức khi tuyệt đối hóa các quyền dân sự - chính trị theo tiêu chuẩn phương Tây, đồng thời hoàn toàn làm ngơ trước các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa - những lĩnh vực mà Việt Nam đạt được thành tựu nổi bật. Theo UNDP, từ năm 2020 đến 2025, Việt Nam đã giảm tỷ lệ nghèo đa chiều từ gần 10% xuống dưới 3%, vượt cả các chỉ tiêu của Liên Hợp Quốc. Hơn 90% dân số có bảo hiểm y tế, phổ cập giáo dục tiểu học đạt 100%. Những điều đó không phải là nhân quyền thực chất sao?

Một trong những luận điểm sai lệch nhất trong báo cáo HRW 2025 là cáo buộc Việt Nam “không có tự do báo chí và Internet”. Thật phi lý khi khẳng định điều đó trong khi Việt Nam có hơn 70 triệu người dùng Internet - phần lớn đều hoạt động tích cực trên mạng xã hội, nhiều khi với các nội dung phê phán mạnh mẽ chính sách công mà vẫn không bị ngăn cản. Họ chỉ bị xử lý khi hành vi vi phạm cấu thành yếu tố nguy hiểm cho xã hội - như xuyên tạc, bịa đặt tin giả, xúc phạm danh dự người khác, kêu gọi chống phá nhà nước. Điều này phù hợp với cả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), vốn cho phép các quốc gia thành viên giới hạn quyền tự do ngôn luận trong trường hợp cần thiết vì an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng.

Về vấn đề thiểu số và tôn giáo, HRW đã bóp méo hoàn toàn thực tế. Báo cáo không hề đề cập đến chương trình 135 của Việt Nam – một chính sách lớn hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số, giúp giảm nghèo bền vững ở Tây Nguyên, Tây Bắc. Các trường hợp bị bắt giữ đều xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật - ví dụ như tổ chức tụ tập trái phép, kích động chia rẽ dân tộc, hay tuyên truyền phản động - chứ không phải do “niềm tin tôn giáo”. Ngược lại, Việt Nam hiện có hơn 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau, với hàng ngàn cơ sở thờ tự được nhà nước hỗ trợ về pháp lý và vật chất. HRW đã cố tình chọn lọc các vụ việc cá biệt, rồi dùng thủ pháp tổng quát hóa để tạo cảm giác về “một hệ thống đàn áp có tổ chức” - một hành vi cực kỳ thiếu đạo đức trong nghiên cứu và công bố thông tin.

Không thể không đề cập đến thủ đoạn liên kết và hậu thuẫn công khai của HRW đối với các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam. Không ít lần, HRW kêu gọi “thả tù nhân chính trị” - tức là cổ súy cho việc phá hoại nhà nước pháp quyền, gây mất ổn định xã hội. Đây là hành vi can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Nếu tổ chức này thật sự khách quan và tuân thủ các nguyên tắc quốc tế, họ phải lên án mọi vi phạm nhân quyền - kể cả ở Mỹ, nơi mỗi năm có hơn 40.000 người thiệt mạng vì bạo lực súng đạn, hay tình trạng phân biệt chủng tộc nghiêm trọng khiến phong trào Black Lives Matter bùng nổ trên toàn nước Mỹ. Thế nhưng, HRW lại chỉ trích Việt Nam gay gắt hơn cả khi so với các đồng minh chính trị của họ - điều đó cho thấy một sự thiên vị có chủ đích, mang tính chính trị nhiều hơn là đạo đức nhân quyền.

Quan trọng hơn cả, HRW đã hoàn toàn làm ngơ trước những thành tựu được quốc tế ghi nhận của Việt Nam. Việc tham gia Hội đồng Nhân quyền LHQ giai đoạn 2023–2025, phê chuẩn 7/9 công ước nhân quyền cốt lõi, đối thoại UPR định kỳ, hay việc tiếp nhận đến 271/320 khuyến nghị từ cộng đồng quốc tế là những minh chứng không thể phủ nhận cho tinh thần cầu thị, hợp tác và quyết tâm cải thiện không ngừng của Việt Nam. Báo cáo của HRW không những không nhắc đến điều đó, mà còn phớt lờ hoàn toàn các thành tích mang tính nền tảng trong bảo đảm quyền sống, quyền được giáo dục, y tế và phát triển toàn diện cho người dân.

Cuối cùng, không thể không nhắc đến vấn đề động cơ. HRW nhận tài trợ hàng triệu USD từ các quỹ tư nhân tại Mỹ, nhiều tổ chức trong đó có quan điểm chống lại các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Việc HRW lặp đi lặp lại mô típ chỉ trích Việt Nam trong suốt từ năm 2015 đến nay, bất chấp thay đổi chính sách và thực tiễn tích cực, không khác gì một chiến dịch chính trị dài hơi được ngụy trang dưới lớp vỏ nhân quyền.

Cộng đồng quốc tế cần nhận thức rõ rằng: nhân quyền không thể bị đánh giá bằng các tiêu chuẩn cứng nhắc, phiến diện. Một quốc gia đang phát triển, có điều kiện lịch sử - văn hóa đặc thù như Việt Nam cần được nhìn nhận công bằng trong tổng thể nỗ lực toàn diện, chứ không thể bị áp đặt tiêu chí từ phương Tây rồi quy kết sai lệch. HRW nếu thực sự vì nhân quyền, hãy nhìn nhận những tiến bộ thực chất mà người dân Việt Nam đang thụ hưởng từng ngày - chứ không phải tiếp tục cổ vũ cho các phần tử cực đoan và áp đặt luận điệu chính trị giả danh đạo đức.

Kết luận, Báo cáo nhân quyền 2025 của HRW không phải là một sản phẩm học thuật khách quan, mà là một văn bản chính trị đội lốt nhân quyền, thiên vị, thiếu chứng cứ và mang động cơ can thiệp. Việt Nam không phủ nhận những tồn tại cần tiếp tục cải thiện, nhưng không thể chấp nhận sự xuyên tạc có hệ thống đến từ một tổ chức vốn đã mất đi uy tín trong chính cộng đồng nhân quyền quốc tế. Đã đến lúc HRW cần bị chất vấn thay vì tiếp tục tự cho mình quyền “đánh giá” một cách phi đạo đức và phản khoa học./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Jul 21, 2025

Cấm xe xăng vào nội đô là bước khởi đầu quan trọng cần làm

           Tre Việt - Gần đây, đề xuất cấm xe máy, xe xăng vào nội đô Hà Nội được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Nhiều ý kiến ủng hộ, cũng có quan điểm phản đối gay gắt, trong đó, ngày 21/7, trên trang Facebook Việt Tân có bài “Xe điện - lệnh cưỡng bức trá hình mang tên chuyển đổi xanh”, cho rằng cấm xe xăng một cách vội vã, cưỡng bức khi hạ tầng yếu kém không phải chuyển đổi xanh là cưỡng chế chính sách, lợi ích nhóm. Quan điểm đó là nhận định phiến diện, cảm tính, thiếu căn cứ thực tiễn; không chỉ bóp méo bản chất chính sách công, mà còn lan truyền tư tưởng hoài nghi, phá hoại niềm tin của người dân vào bộ máy quản lý nhà nước.

Thật vậy, hạn chế xe xăng là xu thế tất yếu và cần thiết. Chính sách hạn chế xe xăng không phải là một sáng kiến cá biệt của lãnh đạo Hà Nội hay Việt Nam, mà là xu thế chung của thế giới. Nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển đã và đang xây dựng lộ trình loại bỏ xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch để hướng tới mục tiêu trung hòa carbon, bảo vệ sức khỏe người dân và giảm ô nhiễm không khí. Ví dụ, Liên minh Châu Âu đã thông qua luật cấm bán xe chạy bằng xăng và diesel từ năm 2035; Singapore, quốc gia có đặc điểm địa lý và dân cư tương đồng với Hà Nội, sẽ dừng đăng ký xe sử dụng động cơ đốt trong từ 2030; Trung Quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ việc thay thế xe xăng bằng xe điện, xe hybrid, đặc biệt ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, v.v. Theo Báo cáo môi trường của WHO (năm 2022), Hà Nội nằm trong nhóm những thành phố ô nhiễm nhất Đông Nam Á, với chỉ số bụi mịn PM2.5 nhiều ngày vượt ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới. Một trong những nguồn gây ô nhiễm chính là giao thông cá nhân sử dụng động cơ đốt trong, chiếm tới 70-80% lượng khí thải CO, NOx và bụi mịn trong đô thị. Vì vậy, việc cấm hoặc hạn chế xe xăng trong nội đô Hà Nội không phải là hành vi thiên vị một doanh nghiệp nào đó, mà là quyết sách cần thiết, hợp lý, phù hợp với xu hướng toàn cầu nhằm bảo vệ môi trường sống của hơn 8 triệu người dân thủ đô.

Hai là, chính sách của Thành phố dựa trên quy hoạch và cơ sở pháp lý rõ ràng. Việc triển khai lộ trình hạn chế xe xăng không phải do một “ý chí cá nhân” hay “mối quan hệ lợi ích” giữa lãnh đạo với doanh nghiệp, mà được đặt trong kế hoạch tổng thể về giao thông, môi trường và quy hoạch đô thị đã được Quốc hội, Chính phủ, Thành phố thông qua từ nhiều năm trước. Cụ thể, Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường giai đoạn 2021 - 2030 của Chính phủ cũng khuyến khích các địa phương giảm dần xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội đã đề ra lộ trình đến năm 2030 dừng hoạt động xe máy trong các quận nội thành. Đề án tăng cường quản lý phương tiện cá nhân (2017) đã được Thành phố xây dựng, tham vấn ý kiến chuyên gia, người dân và nhận được sự đồng thuận cao. Ngoài ra, các hoạt động thí điểm như ưu tiên xe buýt điện, xây dựng tuyến giao thông công cộng xanh, phát triển hệ thống metro, các hệ sinh thái phục vụ xe điện,… cũng được triển khai nhằm tạo điều kiện cho việc chuyển đổi phương tiện một cách bền vững, không gây sốc cho xã hội.

          Từ lý do trên, khẳng định rằng, việc từng bước cấm xe xăng vào nội đô là hoàn toàn phù hợp, vì lợi ích chung, lâu dài của người dân, của đất nước./.

Jul 17, 2025

Việt Tân lại nói càn

          Tre việt – Ngày 16/7, trên trang facebook Việt Tân có ý kiến phản động cho rằng “Bí thư, Chủ tịch thành phố Hà Nội được Vượng Vin cho ăn bao nhiêu mà ra chỉ thị cấm xe xăng vào nội đô”. Đây là luận điệu sai lệch, nguy hiểm và không có cơ sở. Nó không chỉ làm lệch hướng dư luận về một chính sách vì môi trường và sức khỏe cộng đồng, mà còn gây tổn hại uy tín của chính quyền và doanh nghiệp tư nhân chân chính.

Thứ nhất, VinFast không phải là doanh nghiệp duy nhất sản xuất xe điện tại Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước khác cũng đang tham gia thị trường này như TC Motor, Thaco, Toyota, Nissan, Hyundai, Kia, Mitsubishi… Nếu vì ưu ái cho VinFast thì tại sao những doanh nghiệp còn lại cũng hưởng lợi? Đây là lợi ích ngành, không phải lợi ích nhóm.

Thứ hai, khi cấm xe xăng, nảy sinh hàng loạt các vấn đề cần giải quyết để bảo đảm giao thông xanh thay thế, như: tàu điện, xe buýt điện, các phương tiện di chuyển cá nhân bằng điện, hệ sinh thái sử dụng cho xe điện (trạm sạc, dịch vụ pin, dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng xe điện, các điểm đỗ mới), kinh phí hỗ trợ chuyển đổi phương tiện cho người dân,... gây áp lực rất lớn lên hạ tầng giao thông, tài chính công và cả người dân – vốn là trách nhiệm mà chính quyền phải giải quyết. Nếu chỉ có lợi cho VinFast, thì tại sao lại nhận lấy gánh nặng điều hành một quyết sách đầy rủi ro và gây tranh luận?

Thứ ba, chưa có bất kỳ bằng chứng nào được công bố hoặc điều tra cho thấy lãnh đạo thành phố Hà Nội có quan hệ lợi ích cá nhân với VinGroup. Việc lan truyền thông tin theo kiểu “thuyết âm mưu” như vậy chỉ làm xói mòn niềm tin xã hội, gây chia rẽ và làm mất uy tín của bộ máy nhà nước.

Thứ tư, chính VinGroup cũng đang đầu tư sản xuất xe điện ở nhiều nước khác (như Mỹ, Indonesia), nơi mà chính phủ các nước này không hề chịu ảnh hưởng bởi doanh nghiệp Việt Nam, nhưng vẫn có chính sách khuyến khích xe điện. Điều đó cho thấy VinFast phát triển nhờ đón đúng xu thế, chứ không nhờ “mua chuộc chính quyền”.

Việc hạn chế xe xăng là xu thế tất yếu toàn cầu, được hoạch định trong các văn bản quy hoạch quốc gia, có sự chuẩn bị về mặt pháp lý và hạ tầng. Chúng ta cần nhận ra rằng: không phải chính quyền làm theo doanh nghiệp, mà doanh nghiệp thông minh sẽ đi trước đón đầu chính sách đúng đắn của Nhà nước. Đồng thời, việc ra quyết định cấm xe xăng không hề mang tính tùy tiện hay bị chi phối, mà được đặt trong một quá trình hoạch định chính sách có cơ sở khoa học, pháp lý và thực tiễn rõ ràng. Thay vì nghi ngờ, quy chụp và lan truyền thông tin vô căn cứ, mỗi người dân nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy phản biện có trách nhiệm, dựa trên bằng chứng và hướng đến lợi ích dài hạn của xã hội./.

 

Tổ chức đưa, đón cán bộ đi làm ở trụ sở ủy ban nhân dân mới sau sáp nhập là giải pháp hoàn toàn hợp lý

  Tre Việt - Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động trên phạm vi toàn quốc. Đây là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động và bước đầu đã cho thấy tính ưu việt khi chính quyền sát gần Nhân dân hơn, thực hiện chức năng phục vụ Nhân dân tốt hơn, nhanh, gọn, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đang tăng cường chống phá bằng nhiều luận điệu phản động; trong đó có luận điệu “đưa đón cán bộ đi làm bằng ô tô tại trụ sở ủy ban nhân dân mới sau sáp nhập dẫn đến lãng phí tiền của dân”. Phải khẳng định rằng luận điệu này là vô căn cứ, phiến diện, cần kiên quyết bác bỏ.

Ôtô đưa đoàn cán bộ công chức
đến trụ sở làm việc ở Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình)

         Trước tiên, chúng ta phải khẳng định rằng việc đưa đón cán bộ đến trụ sở làm việc mới sau sáp nhập nói chung và trụ sở ủy ban nhân dân nói riêng là cách làm hiệu quả của các địa phương và là giải pháp quan trọng, đáp ứng nhiều mặt trong bối cảnh chúng ta chưa thể ngay một lúc có thể bố trí đủ nhà công vụ hay chỗ ở cho cán bộ công chức. Bởi, sau sáp nhập, địa bàn hành chính của tỉnh được mở rộng đáng kể về không gian, tạo điều kiện tốt hơn cho phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương. Nhiều cán bộ, nhất là những người từ các đơn vị hành chính cũ, giờ đây phải di chuyển quãng đường xa hơn để đến trụ sở mới. Đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi, hạ tầng giao thông còn nhiều khó khăn, đường sá không thuận tiện cho xe máy cá nhân. Việc cán bộ tự túc di chuyển bằng xe máy hàng ngày sẽ tốn kém về chi phí, tiêu hao sức lực, mất nhiều thời gian di chuyển và tiềm ẩn rủi ro về an toàn giao thông, đặc biệt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt hay giờ cao điểm. Do vậy, việc sử dụng ô tô công vụ giúp cán bộ đến nơi làm việc đúng giờ, đảm bảo an toàn và sức khỏe, từ đó duy trì tinh thần và hiệu suất công việc. Đây là sự đầu tư để đảm bảo nguồn nhân lực công vụ luôn sẵn sàng và hiệu quả. Bên cạnh, những lợi ích trực tiếp cho cán bộ và hiệu suất công việc, việc sử dụng xe đưa đón còn góp phần quan trọng vào việc giảm áp lực giao thông và bảo vệ môi trường. Khi một xe đưa đón thay thế hàng chục xe cá nhân, số lượng phương tiện lưu thông trên đường sẽ giảm đáng kể, đặc biệt trong giờ cao điểm. Điều này trực tiếp làm giảm ùn tắc và giảm thiểu nguy cơ tai nạn. Về mặt môi trường, việc giảm số lượng xe cá nhân đồng nghĩa với việc  góp phần bảo vệ bầu không khí trong lành. 

Hai là, chúng ta cần hiểu rõ bản chất xuyên tạc, phản động của luận điệu “lãng phí tiền của dân”. Luận điệu này là một sự bóp méo sự thật, đánh tráo khái niệm và phủ nhận những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động. Thực vậy, luận điệu này cố tình tập trung vào một khía cạnh nhỏ (chi phí vận hành xe) và thổi phồng nó thành “lãng phí” mà bỏ qua những lợi ích to lớn hơn của chủ trương sáp nhập (tinh gọn biên chế, tiết kiệm chi phí vận hành lâu dài,...) và sự cần thiết của việc bố trí phương tiện để duy trì hoạt động hành chính hiệu quả trong bối cảnh mới. Đây là cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan. Nó không dựa trên bất kỳ phân tích, đánh giá hiệu quả tổng thể nào về chi phí - lợi ích, mà chỉ dựa vào cảm tính hoặc thông tin phiến diện, không đầy đủ. Bằng cách gán nhãn “lãng phí tiền của dân” một cách vô căn cứ, luận điệu này nhằm mục đích kích động sự bất mãn của người dân, tạo ra hình ảnh tiêu cực về cán bộ, gây mất đoàn kết và làm suy giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đây là thủ đoạn thường thấy của các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng các vấn đề xã hội để chống phá, gây rối, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

  Từ đó có thể khẳng định rằng việc triển khai xe ô tô đưa đón cán bộ đến trụ sở làm việc sau sáp nhập là một giải pháp hiệu quả và thiết thực, giúp ổn định hoạt động hành chính, nâng cao hiệu suất làm việc của cán bộ và đóng góp vào sự vận hành thông suốt của bộ máy mới. Những luận điệu của các thế lực thù địch là vô căn cứ, phiến diện. Chúng ta cần nhận diện rõ bản chất và cảnh giác trước những luận điệu sai trái này./.


Jul 15, 2025

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về giá trị, ý nghĩa Ngày Độc lập của dân tộc

        Tre Việt - Ngày 02/9/1945 - một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là ngày mà tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng công bố bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ấy vậy mà không ít đối tượng phản động, cơ hội, chống đối đã cố tình xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa thiêng liêng của ngày lịch sử này, biến Ngày Quốc khánh của dân tộc thành cái cớ để công kích nền tảng chính trị, phủ nhận giá trị độc lập và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
       Mới đây, ngày 14/7/2025, trên trang facebook thoibao.de xuất hiện bài viết “NGÀY ĐỘC LẬP HAY NGÀY ĐỘC QUYỀN” được chuyển thể thành dạng short video. Bằng lối văn khiêu khích, ngụy biện, đánh tráo khái niệm và quy chụp, bài viết này đã cố tình vẽ ra hình ảnh “Ngày Quốc khánh là bữa tiệc của nhóm cầm quyền không cần bầu cử”, cho rằng “nhân dân chỉ là khán giả im lặng”, “quyền lực bị đóng băng”, và “ngày độc lập không thuộc về toàn dân”. Những luận điệu này không những thiếu căn cứ mà còn đi ngược hoàn toàn với thực tế lịch sử và chính trị của đất nước ta.
        Thứ nhất, bài viết đánh tráo khái niệm về dân chủ và quyền lực nhân dân. Với giọng điệu “có vẻ” có chiều sâu nhưng đầy xảo ngôn, cái gọi là thoibao.de cho rằng các quốc gia, như: Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba, Việt Nam là “bạn vàng trong việc duy trì quyền lực tuyệt đối mà không cần một lá phiếu nào từ nhân dân”. Đây là một sự đánh tráo khái niệm thô thiển. Cần nhấn mạnh rằng, mô hình dân chủ ở mỗi quốc gia có đặc điểm riêng phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện cụ thể. Nền dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa – tức quyền lực thuộc về nhân dân, được thực hiện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, qua các tổ chức chính trị - xã hội, và đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động.
Không ai có thể phủ nhận rằng Việt Nam tổ chức tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu theo đúng quy định của Hiến pháp, với tỷ lệ cử tri tham gia luôn đạt trên 95%. Các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân đều do nhân dân lựa chọn, có trách nhiệm đại diện cho tiếng nói của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam - thông qua các kỳ Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị - hoạt động trên cơ sở tập trung dân chủ và nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Sự lãnh đạo của Đảng là sự lựa chọn từ thực tiễn cách mạng, không áp đặt mà do nhân dân tín nhiệm và thực tế lịch sử chứng minh.
       Thứ hai, bài viết cố tình bóp méo ý nghĩa và bản chất của ngày Quốc khánh 2/9. Ngày Quốc khánh 2/9 không phải là “bữa tiệc của nhóm người cầm quyền”, mà là ngày hội thiêng liêng của toàn dân tộc - ngày mà sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp “khai hóa”, 5 năm bị phát xít Nhật chiếm đóng và sau hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến - quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền làm chủ của dân tộc Việt Nam được khẳng định trước toàn thế giới như bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng… Dân tộc Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập”.
Chính Nhân dân là người làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, chính Nhân dân là chủ thể của độc lập, tự do và là Người bảo vệ nền độc lập ấy suốt 80 năm qua. Từ cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bảo vệ biên giới đến công cuộc xây dựng đất nước trong thời bình, không ai khác chính Nhân dân là lực lượng trung tâm, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nói “ngày độc lập không thuộc về toàn dân” là một sự xúc phạm trắng trợn đến hàng triệu người đã hy sinh xương máu vì nền độc lập ấy.
         Thứ ba, bài viết mang tư tưởng lệch lạc, cổ súy cho mô hình “đa nguyên, đa đảng” đầy hỗn loạn. Một luận điệu lấp lửng nhưng vô cùng nguy hiểm của bài viết khi cho rằng “ngày độc lập thật sự chỉ đến khi quyền lực không bị giam giữ trong một bàn tay”. Ẩn ý ở đây không có gì mới ngoài mục đích cổ súy cho mô hình đa nguyên, đa đảng phương Tây - nơi mà các nhóm lợi ích chi phối bầu cử, dân chủ trở thành hình thức, phân cực xã hội và bất ổn gia tăng. Nhiều quốc gia từng mơ hồ chạy theo mô hình “tự do phương Tây” nay đang rơi vào vòng xoáy nội chiến, can thiệp từ bên ngoài và mất ổn định kéo dài, v.v.
          Lịch sử đã chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn, do chính Nhân dân xác lập. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc từ nô lệ thành người làm chủ, từ đất nước nghèo đói trở thành quốc gia ngày càng phát triển có vị thế, có uy tín trên trường quốc tế. Đó là thành quả của sự lãnh đạo đúng đắn, sự gắn bó máu thịt với Nhân dân - điều mà không mô hình đa đảng nào có thể tự hào bằng.
        Ngày Quốc khánh 2/9 là biểu tượng của khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc của cả dân tộc Việt Nam, không của riêng ai, càng không phải “bữa tiệc cho nhóm người không cần bầu cử” như luận điệu mà cái gọi là thoibao.de rêu rao. Việc xuyên tạc bản chất của Ngày Độc lập, phủ nhận sự lựa chọn chính trị của dân tộc là một âm mưu nguy hiểm, cần được nhận diện, nhìn rõ và kiên quyết đấu tranh đến cùng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý tưởng cách mạng và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã lựa chọn./.

Luận điệu vu cáo, “vơ đũa cả nắm” xuyên tạc cuộc cách mạng về tổ chức, tinh gọn bộ máy của Nguyễn Văn Đài

       Nguyễn Văn Đài, qua bài viết trên trang Facebook cá nhân mang tựa đề “Xã luận: Cải cách chính trị của ông Tô Lâm - đi ngược dòng chảy dân chủ”, đã tung ra hàng loạt luận điệu xuyên tạc, vu cáo vô căn cứ nhằm bôi nhọ công cuộc cải cách tổ chức bộ máy hành chính của Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm. Với giọng điệu ngạo mạn và thù địch, Đài không chỉ bóp méo sự thật mà còn cố tình áp đặt một mô hình dân chủ phiến diện, phủ nhận những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc xây dựng một hệ thống chính trị minh bạch, hiệu quả, phục vụ nhân dân.
Trang facebook cá nhân
của đối tượng Nguyễn Văn Đài
      Đầu tiên, Nguyễn Văn Đài cho rằng cải cách dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm là “một bước lùi tăm tối cho dân chủ”, củng cố “hệ thống chuyên chế tinh vi”. Đây là một cáo buộc thiếu cơ sở, mang tính quy chụp và bỏ qua thực tiễn cải cách tại Việt Nam. Công cuộc cải cách tổ chức bộ máy hành chính, khởi nguồn từ Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Từ năm 2017 đến 2024, Việt Nam đã sắp xếp lại hơn 1.600 đơn vị hành chính cấp xã và hàng trăm đơn vị cấp huyện, giảm hàng chục nghìn biên chế, tiết kiệm ngân sách hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, như được báo cáo tại các kỳ họp Quốc hội. Những kết quả này không chỉ thể hiện sự minh bạch, công khai mà còn chứng minh cam kết của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng một bộ máy hành chính hiệu quả, phục vụ nhân dân, trái ngược hoàn toàn với luận điệu “chuyên chế” của Đài.
        Tiếp theo, Đài cáo buộc cải cách “duy trì cơ chế chỉ định từ trên xuống”, không cho người dân quyền lựa chọn lãnh đạo, và do đó “không phải là dân chủ”. Đây là một sự đánh tráo khái niệm, cố tình áp đặt mô hình dân chủ phương Tây lên bối cảnh Việt Nam. Dân chủ không chỉ giới hạn ở việc bầu cử trực tiếp mà là một khái niệm đa chiều, phù hợp với đặc thù lịch sử, văn hóa, và xã hội của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” được Hiến pháp khẳng định rõ ràng. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Theo Ủy ban Bầu cử Quốc gia, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV (2021-2026) đạt tỷ lệ cử tri đi bầu lên tới 99,57%, với hơn 69 triệu người tham gia, thể hiện sự đồng thuận mạnh mẽ của nhân dân. Các đại biểu được bầu trực tiếp bởi cử tri, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, tham gia quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Ngoài ra, các kênh dân chủ trực tiếp như lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo luật, giám sát và phản biện xã hội qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cũng được phát huy mạnh mẽ, như quy định trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Việc Đài phớt lờ những hình thức dân chủ này để quy kết “không dân chủ” là một sự bóp méo trắng trợn, thiếu căn cứ.
       Đặc biệt nghiêm trọng là cáo buộc của Đài về “thị trường quan chức” và “mua bán chức quyền”, cho rằng các vị trí lãnh đạo là kết quả của “đặt ghế” và cải cách là “mô hình phối hợp giữa độc tài quyền lực và tư bản thân hữu”. Đây là một sự vu khống không có bằng chứng, mang tính “vơ đũa cả nắm” nhằm hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước. Thực tế, công tác cán bộ tại Việt Nam tuân thủ các quy định chặt chẽ, công khai, minh bạch, như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi năm 2019) và Nghị định số 138/2020/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Quy trình bổ nhiệm dựa trên năng lực, phẩm chất đạo đức, và sự tín nhiệm của tập thể, không có chỗ cho sự tùy tiện. Hơn nữa, Đảng và Nhà nước đã quyết liệt đấu tranh với các hành vi tiêu cực như “chạy chức, chạy quyền”. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, từ năm 2020 đến 2024, hàng trăm cán bộ vi phạm, kể cả ở cấp cao, đã bị xử lý nghiêm minh, minh chứng cho quyết tâm làm trong sạch bộ máy. Những vụ án lớn như “chuyến bay giải cứu” hay sai phạm tại một số địa phương được công khai, minh bạch, hoàn toàn bác bỏ luận điệu “thị trường quan chức” của Đài.
      Đài còn vu cáo rằng cải cách là “vở kịch che đậy sự tham lam quyền lực và tiền bạc”, chỉ nhằm “tái phân phối quyền lực giữa các nhóm lợi ích”. Đây là một sự suy diễn ác ý, phủ nhận những thành tựu rõ ràng của cải cách hành chính. Thực tế, cải cách đã đạt được nhiều kết quả thiết thực: hàng ngàn thủ tục hành chính được cắt giảm, đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp; dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 được triển khai rộng rãi, với hơn 90% thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến vào năm 2024, theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông; việc tinh gọn bộ máy đã giảm chi phí vận hành, tiết kiệm ngân sách để đầu tư cho y tế, giáo dục, và an sinh xã hội. Những nỗ lực này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tăng cường tính minh bạch, phục vụ lợi ích của nhân dân, hoàn toàn trái ngược với cáo buộc “âm mưu chính trị” của Đài.
       Cuối cùng, luận điệu của Đài rằng cải cách “đi ngược dòng chảy dân chủ” là một sự áp đặt máy móc, thiếu hiểu biết về bối cảnh Việt Nam. Công cuộc cải cách hành chính là một phần quan trọng của cải cách chính trị, hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Những thành tựu như cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài (Việt Nam xếp hạng 70/190 trong báo cáo Doing Business 2020 của Ngân hàng Thế giới), hay tăng cường quyền giám sát của nhân dân qua các quy chế dân chủ ở cơ sở, đều chứng minh rằng cải cách đang đi đúng hướng. Những luận điệu của Đài không chỉ sai trái mà còn mang động cơ thù địch, nhằm gây hoang mang, chia rẽ niềm tin của nhân dân.
         Tóm lại, bài viết của Nguyễn Văn Đài là một điển hình của sự xuyên tạc, vu khống, lợi dụng tự do ngôn luận để bôi nhọ công cuộc cải cách của Việt Nam. Với những lập luận thiếu căn cứ, mang tính kích động, Đài không chỉ thể hiện sự thiếu hiểu biết mà còn lộ rõ ý đồ chính trị thù địch, phục vụ các thế lực chống phá. Công cuộc cải cách tổ chức bộ máy hành chính dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm là một bước tiến quan trọng, minh bạch, và vì lợi ích của nhân dân. Mọi nỗ lực bôi nhọ của Đài và các thế lực thù địch đều không thể làm lu mờ những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được, cũng như niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển bền vững của đất nước. Toàn dân cần tỉnh táo, cảnh giác trước những luận điệu sai trái, tiếp tục ủng hộ và đồng hành cùng Đảng, Nhà nước trong hành trình xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)


Jul 14, 2025

Việt Nam luôn tôn trọng và sẵn sàng đối thoại về nhân quyền

     Mới đây, trang “Vietnamthoibao”, đăng tải bài viết: “Đối thoại nhân quyền có đem lại hiệu quả?” của bút danh NTT. Bài viết lấy nguồn tin không chính thống, đưa ra những cáo buộc vô căn cứ về tình hình nhân quyền tại Việt Nam như: “Việt Nam thiếu thiện chí trong vấn đề nhân quyền, Việt Nam không thừa nhận có tù nhân lương tâm mà chỉ có những người vi phạm pháp luật, tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam có xu hướng gia tăng…”. Qua đó, chống phá tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

    1. Trong nền tư pháp Việt Nam không có thuật ngữ “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ: Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, không có việc những người vì tự do bày tỏ chính kiến mà bị bắt giữ. Như các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm theo đúng các quy định của pháp luật. Bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam, được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật, cũng như các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Mục đích chính của việc gắn mác trên nhằm biến các đối tượng vi phạm pháp luật, phạm tội thành những “ngọn cờ” đấu tranh cho cái gọi là dân chủ, nhân quyền. Từ đó, hậu thuẫn, kích động các đối tượng chống phá trong nước, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, v.v. Đây là một thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động nhằm đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế; cổ xúy, hậu thuẫn, hỗ trợ cho một số đối tượng chống đối, phá hoại công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
    Có thể thấy rằng, “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến” là những cái mác dễ khơi gợi lòng trắc ẩn trong công chúng. Có lẽ đó cũng là lý do ngày càng nhiều đối tượng sau khi vi phạm và bị xử lý theo luật pháp Việt Nam, được các thế lực thù địch dựng lên như những “tù nhân lương tâm”, tiếp tục trở thành công cụ để chúng vu cáo, bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Chí Dũng, Trần Thị Nga, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Phương Uyên, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Văn Túc, Lê Đình Lượn, v.v. Còn trên thực tế, không có chuyện bắt giam, bỏ tù những người bất đồng chính kiến như luận điệu xuyên tạc của NTT.
    2. Việt Nam luôn tôn trọng quyền con người và đối thoại về quyền con người. Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế. Ở Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Điều 4, Hiến pháp năm 2013 và pháp luật là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng khẳng định “coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển”; “lấy nhân dân làm trung tâm” và “mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân”. Đảng chủ trương thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” ; mở rộng thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Vì vậy, đối thoại để giải quyết tốt những vấn đề về quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm.
    Thực tiễn những năm qua, công tác đối thoại về quyền con người ở Việt Nam đã được thực hiện một cách có hiệu quả, góp phần bảo đảm quyền con người trên thực tế. Tính đến hết năm 2024, đối thoại nhân quyền Việt Nam - Hoa Kỳ 26 lần, Việt Nam - Australia 19 lần, Việt Nam - Thụy Sĩ 17 lần, Việt Nam - Na uy 14 lần, Việt Nam - EU 12 lần, v.v. Theo bảng xếp hạng Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report), chỉ số hạnh phúc của Việt Nam liên tục tăng với tốc độ cao trong những năm gần đây. Vào năm 2021, Việt Nam đứng thứ 79/149 quốc gia; năm 2022 tăng 2 bậc; tăng 12 bậc vào năm 2023. Việt Nam đang đứng thứ 54 vào năm 2024, tăng 11 bậc so với năm 2023. Tuy nhiên, đối thoại về quyền con người ở nước ta đã và đang bị các phần tử, thế lực lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh, trật tự an toàn xã hội; hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam; kích động chia rẽ làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình”, chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
    Do vậy, những luận điệu xuyên tạc về việc “Việt Nam thiếu thiện chí trong vấn đề nhân quyền, Việt Nam không thừa nhận có tù nhân lương tâm, tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam có xu hướng gia tăng”… là hoàn toàn không đúng sự thật. Bởi vậy, chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác và kiên quyết lên án, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Hạo Nhiên lại phán bừa

          Mới đây, trên trang “Vietnamthoibao”, Hạo Nhiên có bài viết: “Hồi hương - Ảo ảnh Việt nam đang “thịnh vượng và tự do” với nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn những thành tựu phát triển của đất nước, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Luận điệu xuyên tạc: Thành tựu mà đất nước và nhân dân ta đạt được từ ngày thống nhất đất nước đến nay chỉ là “một ảo ảnh tạm bợ” đã cho thấy dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước ta của Hạo Nhiên. Do đó, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Một là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường phát triển trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Sau 50 năm thống nhất đất nước, gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập tiệm cận trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, có vai trò chủ động, tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức hơn 60% năm 1986. Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc.

Hai là, mọi tầng lớp nhân dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện có hiệu quả; tạo cơ sở kích thích, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động của con người. Nhờ vậy, các giai tầng xã hội và các chủ thể tự do, tự chủ đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Các phúc lợi xã hội trong giáo dục, y tế, nhà ở tại Việt Nam đều được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Hiện nay, cả hệ thống chính trị tại Việt Nam đang nỗ lực chung tay hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà ở để đến hết năm 2025 sẽ xóa được toàn bộ 400.000 nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023. Xét ở khu vực châu Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 6. Đây là bảng xếp hạng do Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố dựa trên kết quả khảo sát tại 143 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số hạnh phúc tại Việt Nam tăng đều qua các năm cho thấy kết quả đạt được rất quan trọng của Đảng, Nhà nước ta về chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Trong lúc tình hình an ninh của một số khu vực trên thế giới rất phức tạp với cảnh bom rơi đạn lạc thì người dân Việt Nam càng cảm nhận được sự vô giá của hòa bình, hạnh phúc mà mình đang được hưởng.

Như vậy, những luận điệu mà Hạo Nhiên đưa ra đã thể hiện rõ bộ mặt của kẻ phản động, chống phá cách mạng nước ta. Do đó, chúng ta cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu phản động của Y. Đồng thời, luôn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thành công của sự nghiệp đổi mới, đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Jul 9, 2025

Bằng chứng rõ ràng, phản bác những thông tin sai lệch về tình hình quyền con người tại Việt Nam

           Tre Việt - Trong hai ngày (07 - 08/7/2025), tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ, Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc tổ chức Phiên họp đánh giá Báo cáo quốc gia lần thứ tư của Việt Nam về thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (sau đây gọi là Công ước ICCPR). Đoàn liên ngành của Việt Nam, gồm các thành viên đến từ các cơ quan có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện Công ước ICCPR, do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh làm Trưởng đoàn đã tham dự Phiên họp này với mục đích chia sẻ những bước tiến tích cực, thành tựu đáng khích lệ trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền dân sự và chính trị trong thời gian qua ở Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh
và các thành viên đoàn Việt Nam tại Phiên họp
(Ảnh: TTXVN từ Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ)

Công ước ICCPR là một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 1966 và có hiệu lực vào năm 1976. Với phạm vi điều chỉnh rộng, bao trùm tất cả các quyền dân sự và chính trị của mỗi cá nhân, Công ước ICCPR ra đời đã nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế.

Là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, luôn đặt lợi ích của người dân lên trên hết, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lo, bảo vệ và bảo đảm quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, coi đó là nhiệm vụ và ưu tiên hàng đầu. Cùng với việc gia nhập Công ước ICCPR ngày 24/9/1982, Việt Nam ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc bảo vệ và phát huy quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong nhận thức về quyền con người cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực. Trong những năm gần đây, nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về quyền con người đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Những thành tựu về lập pháp, tổ chức thi hành pháp luật cùng với những nỗ lực về cải cách tư pháp trong thời gian qua là yếu tố đảm bảo quan trọng về pháp lý để mọi người dân Việt Nam có cơ hội và điều kiện thuận lợi thụ hưởng đầy đủ các quyền dân sự, chính trị.

Thực hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước được quy định tại khoản 1, Điều 40 Công ước ICCPR, tháng 3/2023, Việt Nam đã nộp Báo cáo quốc gia lần thứ tư về thực thi Công ước và cuối năm 2024, đã nộp Báo cáo trả lời danh sách các vấn đề quan tâm của Ủy ban Nhân quyền. Các báo cáo được xây dựng theo đúng hướng dẫn của Ủy ban nhân quyền, có sự tham vấn rộng rãi các chủ thể có liên quan. Các báo cáo đều thể hiện rõ sự phát triển toàn diện trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền dân sự và chính trị từ sau khi Việt Nam nộp Báo cáo lần thứ ba năm 2019, đồng thời khẳng định việc tuân thủ các cam kết tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Với chủ trương coi con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới, phát triển đất nước, kể từ sau khi nộp Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 3 vào năm 2019, Việt Nam đã tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về quyền con người và đạt được nhiều thành tựu trên thực tế. Các quyền về tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật, quyền sống, bảo vệ sức khỏe, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do báo chí, internet, bình đẳng giới đều đạt những tiến bộ rõ rệt. Các chỉ số về phát triển con người (HDI), bình đẳng giới (GEI) của Việt Nam do các cơ quan Liên hợp quốc xếp hạng liên tục được cải thiện. Chính phủ đã có nhiều chính sách, biện pháp để bảo vệ sức khỏe người dân, phát triển kinh tế - xã hội trong và sau đại dịch Covid-19, tích cực thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và thực hiện các cam kết của Việt Nam theo các điều ước quốc tế về quyền con người.

Việc tham dự Phiên họp của Ủy ban Nhân quyền lần này thể hiện sự nghiêm túc của Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo về tình hình thực thi các cam kết quốc tế. Đối thoại tại Phiên họp cũng giúp Ủy ban Nhân quyền và các quốc gia thấy rõ bức tranh tổng thể của sự phát triển toàn diện, nhanh chóng trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền dân sự và chính trị từ sau khi Việt Nam nộp Báo cáo lần thứ ba năm 2019. Đối với một số ý kiến dựa trên những nguồn tin chưa được kiểm chứng của một số tổ chức, cá nhân về tình hình thực thi Công ước ICCPR tại Việt Nam, đoàn Việt Nam đã giải đáp, cung cấp thông tin xác thực, nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt.

Thành công từ Phiên họp đánh giá, cùng những bằng chứng đưa ra tại báo cáo cũng như phiên đối thoại sẽ là câu trả lời rõ ràng, phản bác những thông tin sai lệch về tình hình quyền con người tại Việt Nam./.